CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ GỐM BẦU TRÚC-NINH THUẬN 1. Khái quát về làng nghề gốm Bầu Trúc – Ninh Thuận 1. Tên gọi, địa danh Làng Bầu Trúc hay còn gọi là thôn Vĩnh Thuận có tên gốc theo địa danh Chăm là “ Paley Hamu Trok”, có nghĩa là “làng trũng”, nhô ra ở cuối triền sông (palei – làng, Hamu – ruộng, Trok – cuối hoặc lồi ra). “Paley Hamu Trok” định cư tại một cánh đồng ruộng trũng, đến năm 1964 (năm Giáp Thìn) ở Phan Rang xảy ra trận lũ lớn cuốn trôi tất cả nhà cửa, trâu bò… Vì vậy, người Chăm dời làng đến định cư tại một gò đất cao, cách làng cũ 3km về hướng Bắc, nằm cạnh một hồ nước lớn có nhiều cây Trúc nên gọi là Bầu Trúc (Tanaw Paran).
Tuy nhiên, địa danh Bầu Trúc chỉ là tên gọi dân gian mà người Việt dùng để chỉ làng nghề gốm của người Chăm Ninh Thuận, còn tên hành chính là Vĩnh Thuận bắt đầu từ thời Minh Mạng (1832). Theo chiếu của vua ban thì người Chăm buộc phải thay đổi họ tên, địa danh làng xã theo âm Việt để thuận tiện trong việc quản lý hành chính. Ngày nay, làng này có ba tên gọi, tên gọi của người Chăm là “ Paley Hamu Trok”; tên của người Việt thường gọi là Bầu Trúc và tên trên giấy tờ hành chính là Vĩnh Thuận. Tuy nhiên hiện nay, làng này được biết đến với cái tên Bầu Trúc – làng gốm truyền thống của người Chăm Ninh Thuận.
Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề gốm Bầu Trúc Cũng như bao làng Chăm khác ở Ninh thuận, làng Bầu Trúc có quá trình hình thành và phát triển rất đa dạng phức tạp. Người Chăm Bầu Trúc thuộc dòng Chăm vùng núi và biển mà hiện nay họ còn biểu hiện rõ nét trong tục cúng tế tổ tiên dòng núi (atâu cơk) và dòng biển (atâu tathik). Họ nhận mình là cư dân bản địa ở vùng châu thổ Panduranga- ChămPa cổ xưa, định cư ở đồng bằng làm lúa nước. Trong suốt thời gian xảy ra giao tranh giữa ChămPa và Đại Việt, nhất là vào thời Minh Mạng, chiến tranh liên miên, làng xóm bị xáo trộn, người Chăm phải ly tán vào rừng núi để lánh nạn.
Đến thời Tự Đức họ được khoan hồng, lần lượt trở về cư trú tại các vùng đồng bằng, những gò ruộng cao và trồng lúa nước cho đến ngày nay. 10 Tên hành chính của làng Bầu Trúc là Vĩnh Thuận bắt đầu từ thời Minh Mạng. Từ thời Minh Mạng tính đến 1954 (chấm dứt thời Pháp thuộc) thì thôn này có lúc thuộc phủ Bình Thuận, Phủ Ninh Thuận, đạo Phan Rang. Từ 1954 – 1975, thời Mỹ - Ngụy bắt đầu từ đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, nền hành chính có sự thay đổi thì thôn Vĩnh Thuận lại thuộc xã Phước Hậu (Phước Hữu), quận An Phước, tỉnh Ninh Thuận[38].
Sau khi thống nhất đất nước (1975), theo chủ trương của Đảng – Nhà nước vào năm 1976 hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận sáp nhập thành tỉnh Thuận Hải thì Bầu Trúc vẫn giữ nguyên tên gọi hành chính là thôn Vĩnh Thuận nhưng lại thuộc huyện An Sơn. Đến năm 1992 tỉnh Thuận Hải lại được chia tách thành hai tỉnh là Ninh Thuận và Bình Thuận. Từ đó đến năm 2000, địa danh hành chính thôn Vĩnh Thuận được đổi thành “Khu phố 7”, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận và tồn tại cho đến ngày nay Hiện nay, người Chăm Bầu Trúc tự nhận là con cháu của Po Klong Chan – một quan cận thần của vua Chăm Po Klaong Giarai (1151-1205). Trong tâm thức của cư dân Chăm làng Bầu Trúc, Po Klong Chan không chỉ giúp họ thoát khỏi cảnh lầm than đói khổ, đưa họ đến định cư ở cánh đồng “Hamu Trok” mà còn dạy dân đào đất sét làm gốm.
Do đó, họ xem Po Klong Chan là tổ sư của nghề gốm, lập đền và tổ chức cúng tế long trọng vào dịp lễ Katê hàng năm(cuối tháng 9 đến tháng 10 dương lịch). Điều kiện tự nhiên và xã hội 1. Điều kiện tự nhiên a. Vị trí địa lý Thôn Bầu Trúc thuộc khu phố 7, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, nằm cạnh quốc lộ 1A, cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 9km về hướng Nam.
Phía Bắc giáp Kinh Nam; Phía Nam giáp thị trấn Phú Quý; Phía Đông giáp quốc lộ 1A (QL1A) và phía Tây giáp tỉnh lộ 703 (TL703). Khí hậu Khí hậu nơi đây chia ra làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến 11 tháng 11 với trữ lượng mưa trung bình hàng năm rất thấp chỉ trên dưới 700mm/năm. Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau.
Số giờ nắng nóng rất cao cho nên nhiệt độ trung bình hàng năm từ 29 – 330C và độ bốc hơi gấp 2 lần lượng mưa, thường gây ra tình trạng khô hạn nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất của người dân; Độ ẩm 80,3%/năm. Từ trung tuần tháng 10 đến tháng 4, có gió mùa Đông Bắc và từ trung tuần tháng 4 đến trung tuần tháng 10 năm sau có gió Tây Nam. Hai ngọn gió trên, hàng năm đem lại nhiều mưa cho các tỉnh trong toàn quốc nhưng đến Ninh Thuận bị chắn bởi các ngọn núi cao xung quanh làm cho ngọn gió yếu dần, tạo khí hậu khô và nóng [38]. Địa chất - Thủy văn Thôn Bầu Trúc có đồng bằng nằm trọn trong lòng chảo được phù sa bồi tụ hàng năm, hình thành những mỏ đất sét mịn màng có độ dẻo cao, những dãi cát trắng mịn.
Đó chính là những nguyên liệu chủ yếu tạo thành gốm Chăm Bầu Trúc mà không phải nơi nào ở Ninh Thuận cũng có được. Bên cạnh đó, nhờ phù sa bồi tụ mà đất đai nơi đây rất màu mỡ, thuận lợi cho nông nghiệp. Điều kiện xã hội a. Dân cư – Dân số Theo số liệu điều tra, toàn làng có khoảng 586 hộ, với 450 hộ Chăm và 3.226 nhân khẩu Chăm, còn lại là người Kinh.
Đất thổ cư có 19 ha, bình quân 144 người/ km2. Làng có dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào. Dân số nam trong độ tuổi lao động là 1.052 người, chiếm 38,28% và nữ là 1.052 người, chiếm 42,52%. Trong tổng số dân trên có 3 Đảng viên, 30 Đoàn viên, 14 giáo viên cấp I,II; 2 bác sĩ, 2 cán bộ nghiên cứu văn hóa Chăm và 01 đại biểu quốc hội khóa X… [6],[21].
Trình độ văn hóa Nằm trên địa bàn thôn Bầu Trúc có, 01 trường mầm non, 01 trường tiểu học Vĩnh Thuận, 01 trung tâm hướng nghiệp Ninh Phước (cấp huyện) và một trường cấp III An Phước (trường cấp huyện) có 20 phòng học, 1. Đây là điều kiện thuận 12 lợi cho con em làng gốm Bầu Trúc có điều kiện nâng cao trình độ học vấn[6], [21]. Đời sống và hoạt động sản xuất 1. Đời sống kinh tế Hoạt động kinh tế chủ yếu của làng Chăm Bầu Trúc là làm nông và làm gốm.
Tuy nhiên, nghề nông thu nhập thấp, chỉ đủ trang trải qua ngày chứ không có số dư tích lũy. Vì vậy, để tăng thêm thu nhập trong gia đình, giải quyết thời gian nhàn rỗi trong nông nghiệp, người Chăm Bầu Trúc còn làm gốm. Theo thống kê trong toàn làng hiện nay có 80% số hộ gắn bó với nghề gốm truyền thống và chủ yếu do phụ nữ đảm nhận, 20% hộ còn lại do phân công lại lao động trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đổi sang làm dịch vụ thương mại, trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc,. Nếu nghề nông do đàn ông đảm nhiệm thì nghề gốm do phụ nữ làm là chính.
Ngoài ra, trong lúc nông nhàn, đàn ông còn giúp phụ nữ làm gốm trong các khâu đào đất sét, tìm nguyên liệu để nung gốm, tiêu thụ gốm trên thị trường[21].3) Hiện nay, làng Bầu Trúc đã thành lập được 4 tổ hợp tác sản xuất gốm truyền thống với sự tham gia của 95 hộ, tạo việc làm ổn định cho 350 lao động và thu hút mới 65 lao động. Mức sống của người dân địa phương ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, với sự xâm nhập ồ ạt của hàng công nghiệp trong cơ chế thị trường như hiện nay, cần có sự quan tâm cải tạo để phát triển làng nghề một cách hiệu quả[14]. Đời sống văn hóa Lễ hội là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Chăm Ninh Thuận nói chung và cư dân Chăm làng Bầu Trúc nói riêng.
Nó phản ánh toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần, gắn liền với mọi hoạt động của họ trong xã hội. Người Chăm có rất nhiều lễ hội lớn nhỏ khác nhau, mỗi lễ hội mang một sắc thái riêng và gắn với tín ngưỡng tôn giáo. Trong đó, Katê được xem như lễ hội lớn nhất vì nó chính là tấm gương phản chiếu những sinh hoạt của một cộng đồng, là nơi hội tụ di sản văn hóa Chăm đồ sộ mà họ tích lũy được trên chặng đường lịch sử gian truân của mình. Bên 13 cạnh đó, còn có một hệ thống lễ nghi liên quan chu kỳ vòng đời con người như lễ cưới, lễ tang, lễ nhập Kut…; các lễ hội như lễ Raja Nagar (lễ hội múa tống ôn đầu năm), lễ Raja Harei (lễ múa ban ngày), lễ Raja Praong (lễ múa lớn); các lễ nghi nông nghiệp…Ngày nay, với chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc của Nhà nước các lễ hội của người Chăm được tổ chức một cách tốt hơn, qui mô hơn, đặc sắc hơn [23],[37].5) Đối với người Chăm, làng xóm, nhà cửa, gia đình chính là không gian văn hóa góp phần hình thành môi trường xã hội, đời sống cộng đồng.
Việc di dời, chuyển đổi, phá vỡ khuôn viên làng xóm, gia đình cũng đồng nghĩa với việc hủy hoại tổ chức xã hội cổ truyền, bản sắc văn hóa riêng của dân tộc. Vì vậy mà người Chăm không bao giờ tách khỏi cộng đồng mà gắn bó, lưu giữ nghề truyền thống. Họ định cư theo thị tộc mẫu hệ. Mỗi một dãy nhà, mỗi khuôn viên gia đình sống gần nhau thì đều có cùng huyết thống và khi chết nằm chung một nghĩa địa gọi là Kút (người Chăm Bàlamôn).
Đời sống xã hội và tổ chức cộng đồng Nếu như làng (palei) Chăm là đơn vị cư trú cổ truyền mang tàn dư của công xã nông thôn thì gia đình lại là bộ phận hình thành nên đặc trưng ấy. Gia đình trong làng (palei) Chăm Bầu Trúc cũng được tổ chức theo hình thái gia đình mẫu hệ. Trong mỗi gia đình có đàn bà lớn tuổi đứng đầu gọi là “Po sang” (chủ nhà).