mở đầu cho sự nở rộ của phim truyén hình Hàn Quốc trên đất nước mặt trời mọc. Sau đó, cũng như tình hình chung của thế giới, thành quả nghiên cứu của Nhật Bản về lĩnh vực này giảm dần, năm 2009 chỉ có hơn 20 bài, năm 2011 tăng lên 80 bài, đến năm 2015 lại giảm xuống hơn 20 bài. Nhìn từ tong thể, thành quả nghiên cứu về Hallyu ở các nước trên thé giới, cụ thé tại một số quốc gia Châu A tiêu biểu như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, có khuynh hướng tăng mạnh trong giai đoạn 2005-2006, sau đó giảm dần vào những năm sau. Về nội dung, những năm đầu, hầu hết các nghiên cứu chưa trực tiếp sử dụng thuật ngữ Hallyu, sau đó, thuật ngữ này được phổ biến và trở thành một trong những từ khóa của mỗi công trình nghiên cứu.
Quá trình hình thành, đặc điểm và sức ảnh hưởng của Hallyu, nguyên nhân của sự ảnh hưởng đó là những nội dung được các học giả đi sâu phân tích, đánh giá. Y kiến của các học giả cũng có phần khác nhau, Hallyu có khi được coi là hiện tượng tích cực, mang lại ảnh hưởng tích cực, song cũng có ý kiến cho rang, đó là sự ảnh hưởng tiêu cực. Chang hạn như Vu Tịnh (F484, 2018) với bài viết nhan đề Phân tích hiện tượng “Hàn hóa ác tính” của từ vựng tiếng Hán hiện đại, đăng trên Tạp chí học viện Hong Hà. Tác giả bài viết sử dụng thuật ngữ “ác tính” đủ để thể hiện thái độ của mình đối với sự ảnh hưởng tiêu cực của Hallyu đôi với ngôn từ trong giao tiếp bản ngữ của người Trung Quốc.
Nhìn chung, các nghiên cứu khác phan lớn đều phân tích sự ảnh hưởng của Hallyu trên hai phương diện: tích cực và tiêu cực. Những nghiên cứu này đã gợi mở cho tác giả rất nhiều khi thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ này. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Như chúng ta đã biết, Hàn Quốc những năm gần đây ngày càng phát triển vượt bậc về mọi lĩnh vực, trở thành quốc gia có nền kinh tế đứng thứ tư châu Á và đứng thứ mười trên thế giới. Thành quả đó đáng dé các nước trên thế giới, nhất là các nước châu A trong đó có Việt Nam nghiên cứu và học tập.
Nghiên cứu vê ngôn ngữ - văn 17 hóa và đất nước con người Hàn Quốc ở Việt Nam từ sau cải cách hội nhập ngày càng nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa và giảng dạy tiếng Hàn. Trước hết, về thành quả nghiên cứu quan điểm và đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thé trong cộng đồng châu A, phải nói đến cuén Đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thé ở Đông Bắc A và sự gia tăng quyền lực mém do Hoang Minh Lợi chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 2013; tiếp đó là cuốn Quan điểm và đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ Đồng Bắc Á về triển vong hình thành mô hình cộng đồng Đông A do Dương Minh Tuan chủ biên, Nha xuất ban Khoa học Xã hội xuất bản năm 2014. Trong hai công trình nghiên cứu này, các tác giả đã tập trung phân tích hiện trạng và mối quan hệ giữa các quốc gia khu vực châu A trong bồi cảnh hội nhập quốc tế, trên cơ sở đó bàn luận về đối sách của một số quốc gia. Đặc biệt là các nghiên cứu này đã phân tích về vai trò và ảnh hưởng của quyền lực mềm, đồng thời dự đoán triển vọng của mô hình cộng đồng Đông Á trong tương lai.
Tác gia Bùi Nam Khánh (2019) công bố bài viết Yếu tố Trung Quốc tại Campuchia và tác động đối với Việt Nam trên Tạp chí Nghiên cứu nước ngoài, Số 5, Tập 35. Trong đó, tác giả phân tích ảnh hưởng của Trung Quốc đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Campuchia. Trên cơ sở đó, tác giả liên hệ đến Việt Nam và chỉ ra sự ảnh hưởng mang tính lan truyền, liên đới. Tuy nghiên cứu này không đề cập đến Hallyu, nhưng kết quả nghiên cứu cũng liên quan và có những gợi mở cho tác giả thực hiện đề tài này.
Về thành quả nghiên cứu trực tiếp vấn đề Hallyu và ảnh hưởng của Hallyu, gan đây đã có nhiều bài viết về Hallyu được đăng trên Tạp chí Hàn Quốc thu hút sự chú ý của độc giả, tiêu biểu là tác giả người Hàn Quốc Kim Myeong Hye (2012) với bài Han lưu giữa ngã ba đường — Hiện trạng và những ton tại của Hàn lưu; tiếp 46 là tác giả Lý Xuân Chung (2012; 2013) công bố hai bài viết nhan đề Anh hưởng của Hàn lưu đến các nước châu Á và nguyên nhân và Hàn lưu tại một số nước châu Á. Trong các nghiên cứu này, tác giả trên co sở khái niệm Han /zu, khang định vai trò và sức ảnh hưởng của nó đôi với một sô nước châu A, khiên cho nhiêu nước coi mô 18 hình phát triển của Hàn Quốc trên một hoặc một số lĩnh vực làm đường hướng, mục tiêu phát triển đất nước của mình. Qua đó, tác giả đã bước đầu bàn luận về nguyên nhân tạo ra sức ảnh hưởng đó. Tiếp đó là tác giả Đặng Thiếu Ngân (2014) công bố bài viết Làn sóng Hallyu ở Việt Nam.
Đặc biệt, tác giả Đặng Thiếu Ngân (2017) đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Văn hóa học nhan đề Anh hưởng của văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) đối với văn hóa Việt Nam đương đại. Trong công trình này, trên cơ sở điểm lại đặc trưng của văn hóa truyền thống Hàn Quốc và xu thế phát triển của nó, tác giả đi sâu phân tích tầm ảnh hưởng của văn hóa Hàn Quốc đối với văn hóa Việt Nam hiện nay qua những cứ liệu thực tế. Qua nghiên cứu, tác giả khẳng định tính ưu việt trong chiến lược quảng bá hình ảnh Hàn Quốc ra thế giới trong đó có Việt Nam qua những sản phẩm kinh tế, văn hóa xã hội và du lịch. Tiếp đó là nghiên cứu của hai tác giả Trần Thị Hường va Cao Thị Hải Bắc (2015) với nhan đề Anh hưởng của Hàn lưu tại Việt Nam: Nhìn từ góc độ liên ngành.
Đây là một phần thành quả của nghiên cứu dự án Nghiên cứu về hiện tượng Han lưu trong đời sống văn hóa Việt Nam do Hội nghiên cứu khoa học về Hàn Quốc của Việt Nam (KRAV) thực hiện với sự tài trợ của Trung tâm văn hóa Hàn Quốc tại Việt Nam hoàn thành vào cuối năm 2014. Trong nghiên cứu này, thông qua khảo sát, băng số liệu cụ thể, các tác giả đã khăng định vị trí hàng đầu của Hàn Quốc trong sự lựa chọn của người Việt Nam, nhất là giới trẻ, chang hạn như ở lĩnh vực hàng tiêu dùng, mỹ phẩm, thời trang, đồ điện tử và cả phương tiện vui chơi giải trí như game trực tuyến,v. Trong đó, thời trang và mỹ phẩm Hàn Quốc được người tiêu dùng Việt Nam lựa chọn với tỉ lệ 73%, trong khi đó, thời trang và mỹ phẩm của Nhật Ban đứng vị trí thứ hai với 50%; Thái Lan với 40% và Trung Quốc ở vị trí cuối cùng với 30%. Con số ấy đủ để minh chứng cho ảnh hưởng của Hallyu với Việt Nam trước hết ở lĩnh vực thời trang là rất to lớn.
Nghiên cứu về công nghiệp văn hóa thời kỳ hội nhập và rút ra bài học cho quốc tế trong đó có Việt Nam, phải kể đến Tạ Thị Lan Khanh (2019) với nghiên cứu trường hợp Hàn Quốc, nhan đề Hội nhập toàn cau hóa qua công nghiệp văn hóa — Bài học từ Han Quốc. 19 Ngoài ra, còn có các tác giả như Phan Thị Oanh (2014) với bài biết Ý nghĩa của Hàn lưu đối với xã hội Việt Nam cũng là một nghiên cứu tập trung phân tích khía cạnh ảnh hưởng của làn sóng kinh tế, văn hóa Hàn Quốc đối với xã hội Việt Nam. Phan Thị Thu Hiền (2012) với Sự tiếp nhận và ảnh hưởng của làn sóng văn hóa Hàn Quốc trong giới trẻ Việt Nam hiện nay (Qua khảo sát ý kiến học sinh, sinh viên); Nguyễn Thị Thắm (2014) với Một số tác động của Hàn lưu đối với Việt Nam — Nhìn trên góc độ văn hóa xã hội; Trương Văn Minh (2012) với Đài truyền hình Thanh pho Hồ Chí Minh và quá trình làn sóng Hàn Quốc thâm nhập Việt Nam qua phim truyện truyền hình,v. Những nghiên cứu này đều trực tiếp bàn về ảnh hưởng của Hallyu đối với Việt Nam, có giá trị tham khảo cao đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn này.
Tổng quan về hình ảnh quốc gia 1. Khái niệm hình ảnh quốc gia Về khái niệm “Hình ảnh quốc gia” cũng đã có một số tác giả trên thế giới đề cập tới định nghĩa này trong các nghiên cứu của mình. Theo quan điểm của tác giả Philip Kotler thì “Hình ảnh quốc gia là tổng hợp các niềm tin và những ấn tượng của con người lưu giữ về một địa danh hay một quốc gia. Hình ảnh này thâu tóm toàn bộ những thông tin về đất nước” (Philip Kotler, David Gertner, Country as brand, product and beyond: A place marketing and brand management perspective, Routlege, 2004, t.
Tác giả Banh Tân Lương cũng nhấn mạnh một quan điểm rằng “Hình ảnh quốc gia là tài sản vô hình, khó lấy tiêu chuẩn cụ thé dé đánh giá.” (Bành Tân Lương, Ngoại giao văn hoá và sức mạnh mềm Trung Quốc: Một góc nhìn toàn cầu hoá, Sdd, tr. Đối với các tác giả Hàn Quốc, khái niệm về hình ảnh quốc gia được tác giả Seo Soo Yeon đưa ra tạm dịch như sau “Hình ảnh quốc gia là sự phản chiếu của quốc gia đó dựa trên khái niệm của hình ảnh (image), được xác định là hình tượng hình thành dựa trên những thông tin đa dạng của con người về một quốc gia nào đó.” (Seo Soo Yeon, Nghiên cứu về phương án quảng bá quốc gia thông qua việc phát triển hình ảnh văn hoá, 2000, tr. Hoặc nêu miêu tả cụ thé hơn thì tác 20 giả Hwang Bong Yeon cho rằng “Hình ảnh quốc gia là một tập hợp các đặc điểm nỗi bật của một quốc gia bao gồm lich sử, chính tri, văn hoá, ngoại giao, kinh tế, xã hội, nghệ thuật và thé thao.” (Hwang Bong Yeon, Nghiên cứu về hình ảnh quốc gia Hàn Quốc trên các bài báo tờ New York Times — Phân tích nội dung các bài báo trong 3 năm 1982, 1992, 1993, 1994, tr. Yếu tô cấu thành hình ảnh quốc gia Tác giả Yeom Sung Won (Nghiên cứu về chiến lược nâng cao hình ảnh quốc gia, 2002, tr.