Luận văn thạc sĩ về hài hòa quy định kế toán tài sản hữu hình tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quá trình hài hòa các quy định về kế toán tài sản hữu hình của việt nam so với chuẩn mực kế toán, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2016

134
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp của nghiên cứu

1.6. Kết cấu của luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀI HÒA KẾ TOÁN CỦA CÁC CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VỀ TÀI SẢN HỮU HÌNH

2.1. Khái niệm về hài hòa kế toán quốc tế

2.2. Phân loại hài hòa kế toán quốc tế

2.3. IASB - Lược sử và tiến trình phát triển của hài hòa - hội tụ kế toán quốc tế

2.3.1. Lược sử IASC từ khi thành lập đến năm 1987

2.3.1.1. Tiền thân IASC
2.3.1.2. IASC - từ khi thành lập đến năm 1987
2.3.1.3. IASC - giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2000
2.3.1.4. IASB - Quá trình hội tụ từ năm 2001 đến nay

2.4. Sơ lược về quá trình phát triển chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam

2.4.1. Sơ lược về quá trình phát triển các chuẩn mực kế toán quốc tế

2.4.2. Sơ lược về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam

2.5. Các nghiên cứu trước đây về hài hòa kế toán quốc tế

2.6. Chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam về tài sản hữu hình và đo lường tài sản trong kế toán

2.6.1. Chuẩn mực kế toán quốc tế về tài sản hữu hình

2.6.1.1. Chuẩn mực kế toán quốc tế hàng tồn kho
2.6.1.2. Chuẩn mực kế toán quốc tế máy móc, thiết bị, nhà xưởng
2.6.1.3. Chuẩn mực kế toán quốc tế bất động sản đầu tư
2.6.1.4. Chuẩn mực kế toán quốc tế thuê tài sản

2.6.2. Chuẩn mực kế toán Việt Nam về tài sản hữu hình

2.6.2.1. Chuẩn mực kế toán Việt Nam hàng tồn kho
2.6.2.2. Chuẩn mực kế toán Việt Nam tài sản cố định hữu hình
2.6.2.3. Chuẩn mực kế toán Việt Nam bất động sản đầu tư
2.6.2.4. Chuẩn mực kế toán Việt Nam thuê tài sản

2.6.3. Đo lường tài sản trong kế toán

2.6.3.1. Khái niệm và ý nghĩa của đo lường trong kế toán
2.6.3.2. Các cơ sở đo lường tài sản
2.6.3.3. Các mô hình đo lường giá trị tài sản trong kế toán

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Mục tiêu và giả thuyết nghiên cứu

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

3.2.1. Phương pháp thu thập

3.2.2. Phân tích dữ liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

5.1. Một số kiến nghị

5.1.1. Xây dựng chuẩn mực giá trị hợp lý

5.1.2. Xây dựng chuẩn mực kế toán về Tổn thất tài sản

5.1.3. Hoàn thiện VAS 01- Chuẩn mực chung

5.1.4. Bổ sung một số điều khoản về quy định chung của luật kế toán

5.1.5. Kiến nghị đối với các chuẩn mực cụ thể

5.1.6. Các kiến nghị khác có liên quan

5.2. Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

Tài liệu tham khảo

Phụ Lục

Tóm tắt

I. Tổng quan về quy định kế toán tài sản hữu hình Việt Nam

Quy định kế toán tài sản hữu hình tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Từ khi ban hành các chuẩn mực kế toán đầu tiên, hệ thống này đã dần dần được hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn và yêu cầu hội nhập quốc tế. Việc hài hòa các quy định này với chuẩn mực kế toán quốc tế là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

1.1. Khái niệm về tài sản hữu hình trong kế toán

Tài sản hữu hình là những tài sản có thể cảm nhận được bằng giác quan, như đất đai, nhà cửa, máy móc, thiết bị. Việc ghi nhận và đo lường tài sản hữu hình trong kế toán là rất quan trọng để đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong báo cáo tài chính.

1.2. Vai trò của quy định kế toán tài sản hữu hình

Quy định kế toán tài sản hữu hình đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin tài chính chính xác cho các nhà đầu tư và các bên liên quan. Điều này giúp nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính.

II. Vấn đề và thách thức trong quy định kế toán tài sản hữu hình

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng quy định kế toán tài sản hữu hình, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Sự khác biệt giữa quy định trong nước và chuẩn mực quốc tế là một trong những vấn đề lớn nhất.

2.1. Sự khác biệt giữa quy định Việt Nam và chuẩn mực quốc tế

Các quy định kế toán tài sản hữu hình tại Việt Nam vẫn còn nhiều điểm khác biệt so với chuẩn mực IAS/IFRS. Điều này gây khó khăn trong việc so sánh và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng quy định mới

Việc áp dụng các quy định mới về kế toán tài sản hữu hình gặp nhiều khó khăn do sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng của nhân viên kế toán. Điều này dẫn đến việc thực hiện không đồng nhất và thiếu chính xác trong báo cáo tài chính.

III. Phương pháp hài hòa quy định kế toán tài sản hữu hình

Để nâng cao mức độ hài hòa giữa quy định kế toán tài sản hữu hình của Việt Nam và chuẩn mực quốc tế, cần áp dụng một số phương pháp cụ thể. Những phương pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng báo cáo tài chính mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập quốc tế.

3.1. Xây dựng chuẩn mực giá trị hợp lý

Việc xây dựng chuẩn mực giá trị hợp lý cho tài sản hữu hình là cần thiết để đảm bảo tính chính xác trong việc ghi nhận và đo lường tài sản. Điều này cũng giúp tăng cường tính minh bạch trong báo cáo tài chính.

3.2. Đào tạo và nâng cao năng lực cho nhân viên kế toán

Đào tạo nhân viên kế toán về các quy định mới và chuẩn mực quốc tế là rất quan trọng. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng báo cáo tài chính mà còn tạo ra sự đồng nhất trong việc áp dụng quy định.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về hài hòa quy định kế toán tài sản hữu hình đã chỉ ra rằng việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế có thể cải thiện đáng kể chất lượng báo cáo tài chính. Các doanh nghiệp đã có những bước tiến rõ rệt trong việc áp dụng các quy định này.

4.1. Kết quả từ các doanh nghiệp áp dụng quy định mới

Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng thành công các quy định mới về kế toán tài sản hữu hình, từ đó nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính. Điều này đã thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các bài học kinh nghiệm từ những doanh nghiệp đã áp dụng quy định mới cho thấy rằng việc chuẩn bị kỹ lưỡng và đào tạo nhân viên là rất quan trọng để đảm bảo thành công trong việc áp dụng các quy định kế toán.

V. Kết luận và tương lai của quy định kế toán tài sản hữu hình

Việc hài hòa quy định kế toán tài sản hữu hình với chuẩn mực quốc tế là một quá trình liên tục và cần sự nỗ lực từ nhiều phía. Tương lai của quy định này sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng và cải tiến của hệ thống kế toán Việt Nam.

5.1. Định hướng phát triển trong tương lai

Hệ thống kế toán Việt Nam cần tiếp tục cải tiến và cập nhật các quy định để phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Điều này sẽ giúp nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.

5.2. Tầm quan trọng của việc duy trì sự hài hòa

Duy trì sự hài hòa giữa quy định kế toán trong nước và quốc tế là rất quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính, từ đó tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và các bên liên quan.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ quá trình hài hòa các quy định về kế toán tài sản hữu hình của việt nam so với chuẩn mực kế toán quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu chung.  Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hài hòa kế toán của các CMKT về TS hữu hình.  Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.  Chương 4: Kết quả nghiên cứu.

 Chương 5: Kết luận và một số kiến nghị. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀI HÒA KẾ TOÁN CỦA CÁC CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VỀ TÀI SẢN HỮU HÌNH 2.1 Khái niệm về hài hòa kế toán quốc tế 2.1 Khái niệm về hài hòa kế toán quốc tế Các nghiên cứu trước đây về hài hòa kế toán quốc tế thường sử dụng các khái niệm khác nhau như: ―hài hòa‖ (harmanization), ―tiêu chuẩn hóa‖ (standardization) và ― hội tụ‖ (convergence). Hài hòa là sự phối hợp điều chỉnh của hai hay nhiều đối tượng (Van Der Tas, 1988). Tay and Parker (1990) đưa ra một mô hình giải thích khái niệm ― hài hòa‖ và phân biệt với ―tiêu chuẩn hóa‖.

Theo đó, quá trình ―hài hòa‖ là sự chuyển hóa từ trạng thái đa dạng hoàn toàn về các phương pháp kế toán sang trạng thái hài hòa, có nghĩa là sự hình thành các nhóm doanh nghiệp tập trung vào một số ít các phương pháp kế toán. Trong khi đó, quá trình ―tiêu chuẩn hóa‖ là sự chuyển hóa sang trạng thái thống nhất. Như vậy, ―tiêu chuẩn hóa‖ bao hàm cả sự ―hài hòa‖ và sau đó sự giảm thiểu các lựa chọn về phương pháp kế toán. Khái niệm ―hội tụ‖ lần đầu tiên được IASC đề cập đến trong báo cáo chiến lược của mình năm 1998 (IASC, 1998) và sau đó được khẳng định trong Hiến chương của IASB như một mục tiêu của tổ chức này (IASC Foundation, 2010).

Hội tụ được hiểu là quá trình phát triển hướng đến một hệ thống CMKT toàn cầu chất lượng cao. Herz and Petrone (2005) nhìn nhận hội tụ là quá trình mà tiền thân là ―hài hòa‖ rồi ―quốc tế hóa‖ đến nay là ―hội tụ‖. Hội tụ kế toán quốc tế nhằm thiết lập chuẩn mực chất lượng cao để cải thiện so sánh phạm vi quốc tế về thông tin tài chính, giảm chi phí cho người sử dụng, nhà đầu tư, kiểm toán nhằm phát triển thị trường vốn toàn cầu. Zhang and Qu (2010) cho rằng hội tụ là hướng đến một điểm duy nhất để đạt sự thống nhất chung.

Việc phát triển chuẩn mực của IASB là sự chuyển đổi từ hài hòa sang hội tụ. Hội tụ được xem là quá trình ―tiêu chuẩn hóa‖ chuẩn mực. Hài hòa và hội tụ không đối lập nhau, cả hai thuật ngữ này phản ánh quá trình phát triển của chuẩn mực kế toán ở những mức độ khác nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Phân loại hài hòa kế toán quốc tế Hài hòa kế toán bao gồm hài hòa quy định (formal hay de jure) và hài hòa thực tế (material hay de facto) (Van der Tas, 1988, 1992; Canibano and Mora, 2000; Garrido et al.

 Khi hài hòa được đánh giá qua các chuẩn mực và quy định được gọi là hài hòa về chuẩn mực. Hài hòa về chuẩn mực liên quan đến tính thống nhất và nhất quán của các quy định và luật lệ kế toán.  Hài hòa thực tế là sự gia tăng mức độ khả năng so sánh và có nghĩa là nhiều công ty hơn sẽ áp dụng phương pháp kế toán tương tự cho một sự kiện hoặc đưa ra thêm thông tin tới phạm vi mà báo cáo tài chính của những công ty nào có thể so sánh (Van Der Tas, 1988). Theo Van der Tas (1992), hài hòa CMKT và hài hòa thực tế kế toán cần được nghiên cứu dưới hai góc độ: hài hòa về mặt công bố thông tin (disclosure harmonization) và hài hòa về mặt đo lường (mearsurement harmonization), trong đó:  Hài hòa về mặt đo lường: là hài hòa về phương pháp kế toán được lựa chọn.

Mục tiêu của hài hòa CMKT về đo lường là tránh hoặc loại bỏ các chuẩn mực mâu thuẫn hoặc khác biệt cơ bản. Mục tiêu của hài hòa thực tế kế toán về đo lường là tăng tính có thể so sánh được của BCTC. Để BCTC có thể so sánh được, các công ty phải chọn cùng một phương pháp kế toán cho các nội dung kinh tế có cùng bản chất. Việc lựa chọn cùng một phương pháp kế toán như vậy sẽ giới hạn được một trong các yếu tố làm các chỉ số của BCTC khác biệt mà không xuất phát từ khác biệt về kết quả hoạt động.

 Hài hòa về mặt công bố thông tin: là hài hòa về mức độ khai báo thông tin (số lượng và chi tiết của các thông tin được trình bày trên BCTC). Mục tiêu của hài hòa thực tế về công bố thông tin là các BCTC của các công ty cùng công bố một số các thông tin xác định ở cùng một mức độ chi tiết xác định, mức độ khai báo thông tin này được xem như mức độ khai báo thông tin tối thiểu mà tất cả các BCTC phải đáp ứng được. Mục tiêu của hài hòa CMKT TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 về công bố thông tin là đạt được chuẩn chung về mức độ khai báo thông tin tối thiểu. Hài Hàihòa hòaCMKT CMKTvề vềđo đo lường lường Hài Hàihòa hòa CMKT CMKT Hài Hàihòa hòaCMKT CMKTvềvề công bốcông bố Hài Hàihòa hòakế kếtoán toán quốc quốc tế tế Hài Hàihòa hòathực thực tế tế kếkế toán toán về về đo đo lường lường Hài hòa thực tế kế toán Hài hòa thực tế kế toán về công bố Hình 2.1 Các khái niệm về hài hòa Nguồn: Canibano and Mora (2000).

Hài hòa trong chuẩn mực là cơ sở để đạt được sự hài hòa trong thực tế và hài hòa trong thực tế không thể đạt được nếu thiếu hài hòa trong chuẩn mực (Qu and Zhang, 2010) cho thấy tầm quan trọng của hài hòa trong chuẩn mực nên tác giả tập trung hài hòa chuẩn mực về đo lường cả hai khía cạnh xét cả thời điểm (harmony) và quá trình (harmanizaton) trong bài nghiên cứu của mình.2 IASB - Lƣợc sử và tiến trình phát triển của hài hòa - hội tụ kế toán quốc tế 2.1 Lƣợc sử IASC từ khi thành lập đến năm 1987 2.1 Tiền thân IASC Giai đoạn 1950 - 1960 khi sự gia tăng hòa nhập kinh tế quốc tế không phải trực tiếp do các nhà đầu tư, mà do chính nghề nghiệp kế toán đã gây áp lực cho quá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 trình giảm thiểu khác biệt thực hành kế toán giữa các quốc gia. Sau chiến tranh thế giới thứ Hai, Nhóm nghiên cứu kế toán quốc tế (AISG) đã ra đời năm 1966 nhằm tổng hợp thông tin về thực hành kế toán của 3 quốc gia: Canada, United Kingdom, và United States với mục đích so sánh thực hành kế toán giữa các quốc gia với nhau. AISG được xem là tiền thân của IASC. Giai đoạn năm 1966 đến năm 1977, nhóm nghiên cứu đã phát hành 20 cuốn sách nhỏ về kế toán và kiểm toán, dù chưa đề cập hết tất cả các chủ đề kế toán và giải tán vào năm 1977.

Nhưng kết quả mà AISG mang lại có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc so sánh thực hành kế toán và tìm nguyên nhân của các khác biệt, hỗ trợ cho nghề nghiệp kế toán của các quốc gia lúc bấy giờ. Và quan trọng hơn AISG giúp định hướng xây dựng của các CMKT quốc tế sau này. Năm 1973, IASC là cơ quan đầu tiên xây dựng và ban hành hệ thống CMKT quốc tế chính được thành lập bao gồm các tổ chức lập quy của 9 quốc gia: Australia, Canada, French, Germany, Japan, Mexico, The Netherlands, The United Kingdom, United States và chủ tịch đầu tiên là Harry Benson. IASC đã ra đời trong bối cảnh nền kinh tế gia tăng có sự di chuyển vốn giữa các quốc gia.

Hoa Kỳ trở thành cường quốc kinh tế sau chiến tranh cùng với sự phát triển của thị trường chung Châu Âu. Cho nên không khó để nhận ra rằng sự hòa hợp kinh tế quốc tế đã ảnh hưởng đến BCTC. Mặc dù tất cả các quốc gia phát triển đều áp dụng kế toán kép, nhưng thực hành kế toán hết sức khác nhau giữa các quốc gia, xuất phát từ sự khác biệt từ luật công ty, tài chính doanh nghiệp, thuế và vị trí nghề nghiệp. Ít nhất về mặt lý thuyết, IASC thành lập là để giảm sự khác biệt thông qua hài hòa kế toán sẽ giúp cho đầu tư và thương mại quốc tế được dễ dàng hơn.2 IASC - từ khi thành lập đến năm 1987 Trước năm 1987, IASC đã thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa tổ chức với các tổ chức nghề nghiệp khác.

Các thành viên của IASC không có quyền yêu cầu về việc lập BCTC tại quốc gia mình để đảm bảo tính tuân thủ IAS. IASC đã ban hành các CMKT quốc tế trong giai đoạn này để hướng tới một mục tiêu là hài hòa kế toán. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Từ năm 1984, IASC đã chủ động tìm kiếm sự ủng hộ rộng rãi mục tiêu và hoạt động của mình thông qua gia tăng mối quan hệ với nhiều tổ chức lập quy các quốc gia cũng như tổ chức nhiều hội thảo khắp nơi trên thế giới. IASC chủ động mời đại diện châu Âu làm khách mời cho cuộc họp của mình từ năm 1984.

Sau 2 năm, việc Chủ tịch và Thư ký của IASC được mời tham gia tranh luận về 2 vấn đề (Dự thảo về Báo cáo tài chính năm và Báo cáo tài chính hợp nhất) thể hiện gia tăng mối quan hệ giữa IASC và Liên minh Châu Âu. Ảnh hưởng của IAS trong những năm trước 1987 đến thực hành kế toán là không đáng kể. Một phần bởi các thành viên của IASC là đại diện tổ chức nghề nghiệp nên không đủ quyền lực để yêu cầu các cơ quan lập quy về kế toán quốc gia tuân thủ IAS, thêm một lý do nữa là thiếu sự ủng hộ của DN, ngay cả đối với quốc gia có thị trường vốn phát triển, như Úc, Hoa Kỳ, Canada, Anh. Bên cạnh đó, các quốc gia châu Âu lục địa có nguồn tài chính của các DN từ ngân hàng, hộ gia đình và Nhà nước nên các BCTC chú trọng đòi hỏi tuân thủ khá chặt chẽ các quy định pháp lý.

Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển có nhu cầu vay Ngân hàng Thế giới (WB) nên được đòi hỏi thông tin BCTC đáng tin cậy. Năm 1981, WB quyết định liên kết với Nhóm tư vấn của IASC và năm 1973, Tập đoàn tài chính quốc tế IFC - thành viên WB yêu cầu các DN vay vốn cần tóm tắt chính sách kế toán xem có áp dụng IAS không. Cho nên giai đoạn này, IAS có phần thành công hơn đối với các quốc gia đang phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ