phần mở đầu và kết luận, kết cấu của báo cáo gồm ba phần chính: Phần I: Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất. Phần II: Thực trạng hạch toán nguyên vật liệu tại xí nghiệp In LĐ – XH. Phần III: Hoàn thiện hạch toán nguyên vật liệu tại xí nghiệp In LĐ – XH. Vì khả năng và thời gian có hạn nên chuyên đề này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong và xin chân thành cảm ơn sự góp ý của các thầy cô giáo và các cô chú trong phòng kế toán của xí nghiệp. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM PHÂN LOẠI VÀ TÍNH GIÁ NVL TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Khái niệm và đặc điểm nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu (NVL) là những đối tƣợng lao động, một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành nên thể thức của sản phẩm. NVL có đặc điểm riêng khác với các loại sản phẩm khác của doanh nghiệp là: trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, NVL bị tiêu hao toàn bộ và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. NVL là loại tài sản sản xuất thƣờng xuyên biến động, các doanh nghiệp thƣờng xuyên phải tiến hành mua NVL và dự trữ để đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và các nhu cầu sử dụng NVL khác trong doanh nghiệp. Mặt khác, trong các doanh nghiệp sản xuất chi phí NVL thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Do vậy, tăng cƣờng công tác quản lý và hạch toán NVL đảm bảo sử dụng hiệu quả, tiết kiệm NVL nhằm hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có ý nghĩa quan trọng. Trong doanh nghiệp sản xuất, NVL là tài sản dự trữ tồn kho của doanh nghiệp, nó là lƣợng vốn dự trữ mà doanh nghiệp buộc phải có, đi kèm với nó là các chi phí về bảo quản, bốc dỡ. Do vậy, nếu ban quản lý không xây dựng 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một tỷ lệ vốn đầu tƣ hợp lý sẽ gây nhiều bất lợi cho doanh nghiệp. Nếu dự trữ quá ít, sản xuất sẽ lâm vào tình trạng ngừng trệ hoặc giảm tiến độ.
Khi đó không có doanh thu mà vẫn phải trả các khoản chi phí cố định nhƣ khấu hao, bảo dƣỡng máy móc, lƣơng công nhân nghỉ chờ việc dẫn đến nguy cơ gây lỗ. Nếu dự trữ quá nhiều, các chi phí cho hàng và chi phí liên quan (nhƣ bến bãi, kho dự trữ…) sẽ tăng không cần thiết. Điều đó gây thất thoát về thiếu hụt vốn. Nhƣ vậy, việc xây dựng một tỷ lệ NVL hợp lý là một tiêu chí đánh giá khả năng lãnh đạo của nhà quản trị.
Nếu thực hiện đƣợc sẽ tạo đƣợc khả năng tăng vòng quay sử dụng vốn, tận dụng các cơ hội kinh doanh, tăng thu giảm chi, mở rộng hoạt động ra khỏi lĩnh vực chính. Việc nghiên cứu để đƣa ra tỷ lệ NVL thích hợp vừa có lợi về chi phí mua, vừa đảm bảo chất lƣợng và đáp ứng phù hợp nhu cầu sản xuất mỗi khi có biến động lớn bất ngờ. Phân loại NVL. Trong các doanh nghiệp, do tính chất đặc thù trong sản xuất kinh doanh nên phải sử dụng nhiều loại NVL khác nhau bao gồm nhiều loại, thứ với nội dung kinh tế, công dụng, tính năng lý hoá học và yêu cầu quản lý khác nhau.
Vì vậy, để quản lý tốt công tác quản lý và hạch toán NVL đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh thì cần thiết phải tiến hành phân loại NVL theo những tiêu thức thích hợp. Tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng, năng lực của từng nơi, từng bộ phận mà có cách phân loại khác nhau, dựa trên những đặc trƣng khác nhau. Căn cứ vào nội dung kinh tế vai trò, chức năng của NVL trong quá trình sản xuất kinh doanh vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, vật liệu đƣợc chia thành các loại sau: - Nguyên vật liệu chính: nguyên vật liệu chính là đối tƣợng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm. Vì vậy, khái 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm NVL chính cũng gắn liền với từng doanh nghiệp sản xuất cụ thể.
NVL chính cũng bao gồm cả giá bán thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm. Đối với doanh nghiệp in ấn thì NVL chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản lƣợng (khoảng 70%-80%). - Nguyên vật liệu phụ: là những vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà chỉ có tác dụng phụ trợ, đƣợc sử dụng kết hợp với vật liệu chính để làm tăng chất lƣợng sản phẩm hoặc phục vụ cho công việc quản lý sản xuất, cho nhu cầu công nghệ, cho việc bảo quản đóng gói sản phẩm nhƣ các loại bao bì, vật liệu đóng gói… - Nhiên liệu: là loại dùng để cung cấp nhiệt lƣợng phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho các phƣơng tiện máy móc hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nhiên liệu có thể là chất rắn (than, củi…) chất lỏng (xăng, dầu…) và chất khí (hơi đốt, ga…).
- Phụ tùng thay thế: là những loại vật tƣ dùng để sửa chữa thay thế máy móc thiết bị, phƣơng tiện vận tải, công cụ dụng cụ sản xuất. - Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: là những loại vật liệu và thiết bị sử dụng cho công việc in ấn, bao gồm những thiết bị dành cho việc in, công cụ, khí cụ, vật kết cấu… - Phế liệu: là những loại vật liệu bị loại ra trong quá trình sản xuất nhƣ giấy vụn…hoặc phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định…Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và kế toán chi tiết của từng doanh nghiệp mà trong từng loại vật liệu trên đƣợc chia thành từng nhóm, thứ một cách chi tiết hơn. Đánh giá NVL. Đánh giá NVL là dùng thƣớc đo tiền tệ để biểu hiện giá trị của chúng theo những nguyên tắc nhất định.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đánh giá NVL theo giá thực tế Về nguyên tắc NVL phải đƣợc đánh giá theo thực tế bao gồm giá mua, cộng với chi phí thu mua, vận chuyển, tuỳ theo doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo phƣơng pháp trực tiếp hay phƣơng pháp khấu trừ. Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tƣợng nộp thuế GTGT theo phƣơng pháp khấu trừ thuế, giá trị NVL mua vào là thực tế không có thuế GTGT đầu vào. Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tƣợng nộp thuế GTGT theo phƣơng pháp trực tiếp trên GTGT và cơ sở kinh doanh không thuộc đối tƣợng chịu thuế GTGT, giá trị NVL mua vào là tổng giá thanh toán (bao gồm cả thuế GTGT đầu vào). - Giá thực tế nguyên vật liệu nhập kho Đối với NVL mua ngoài nhập kho: Trị giá Giá mua Các loại Các chi Các thực tế trên hoá thuế phí thu khoản NVL = đơn (giá + không + mua - giảm nhập kho chưa có được thực tế giá thuế) hoà n lại Giá tính thuế GTGT đối với vật liệu nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu (CIF) cộng (+) thuế nhập khẩu.
- Đối với NVL tự gia công chế biến nhập kho: Trị giá thực Giá thực tế Chi phí gia tế NVL nhập = NVL xuất + công chế kho kho biến 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đối với NVL thuê ngoài gia công chế biến nhập kho: Giá thực tế Chi phí chế Chi phí Trị giá thực = NVL xuất + biến phải trả + vận tế NVL nhập kho thuê cho người chuyển kho ngoà i chế chế biến đi về biến - Đối với NVL nhận góp vốn liên doanh, vốn cổ phần hoặc thu hồi lại vốn góp thì giá thực tế NVL là giá do hội đồng liên doanh đánh giá và chấp nhận. - Đối với NVL đƣợc cấp trên cấp, đƣợc biếu tặng hay viện trợ. Trị giá thực tế Giá trị thị Các chi phí = trường tương + liên quan đến VL nhập kho đương việc tiếp nhận - Đối với phế liệu thu hồi thì giá trị thực tế NVL nhập kho đƣợc xác định theo giá ƣớc tính, giá có thể sử dụng đƣợc hoặc bán đƣợc. Đánh giá NVL theo giá trị thực tế là cơ sở để tính toán, phân bổ chính xác chi tiết thực tế của NVL vào các đối tƣợng sử dụng để tính chính xác giá thành sản phẩm.
Giá thực tế NVL xuất kho Đối với NVL xuất dùng trong kỳ tuỳ theo đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp, yêu cầu quản lý và trình độ nghiệp vụ của kế toán có thể sử dụng một trong các phƣơng pháp sau: Phương pháp giá thực tế đích danh: Phƣơng pháp này thƣờng đƣợc áp dụng với các loại NVL có giá trị cao, các loại vật tƣ đặc trƣng. Giá thực tế vật liệu xuất kho đƣợc căn cứ vào đơn giá thực tế vật liệu nhập kho theo từng lô hàng, từng lần nhập và số lƣợng xuất kho theo từng lần. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ƣu điểm của phƣơng pháp này là theo dõi chính xác về giá lúc nhập lúc xuất. Tuy nhiên nó cũng có nhƣợc điểm khó theo dõi vì nhiều mặt hàng công việc kế toán chi tiết phức tạp.
Vì vậy chỉ nên áp dụng phƣơng pháp này trong doanh nghiệp có ít mặt hàng, các loại NVL có giá trị cao, đồng thời kế toán NVL có tính khoa học và trình độ cao. Phương pháp tính theo giá nhập trước xuất trước (Fifo): Theo phƣơng pháp này giả thiết rằng số nguyên vật liệu nào nhập trƣớc thì xuất trƣớc, xuất hết số nhập trƣớc rồi mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng lô hàng nhập. Nói cách khác, cơ sở của phƣơng pháp này là giá thực tế của vật liệu trƣớc sẽ dùng làm giá để tính thực tế của vật liệu xuất trƣớc, do vậy giá trị vật liệu tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của vật liệu mua vào sau cùng. Phƣơng pháp này thích hợp trong trƣờng hợp giá cả ổn định hoặc có xu hƣớng giảm, sử dụng phƣơng pháp này khi doanh nghiệp có nhiều nhiệm vụ nhập xuất thời hạn sử dụng ngắn.