Chương 1: Lịch sử giao thương Việt Nam - Nhật Bản Chương 2: Sự hính thành và đặc trưng của gốm sứ Việt Nam - Nhật Bản Chương 3: Gốm sứ Việt Nam - Nhật Bản trong bối cảnh mậu dịch Đông Á 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LỊCH SỬ QUAN HỆ GIAO THƢƠNG VIỆT NAM - NHẬT BẢN 1. Những mối liên hệ truyền thống Việt Nam - Nhật Bản 1. Những mối liên hệ thời cổ trung đại Sự phát triển quan hệ nhiều mặt, đặc biệt là về thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản hiện nay đã được khởi nguyên từ mối liên hệ nhiều chiều trong lịch sử. Cụ thể trong lĩnh vực văn hoá, mối liên hệ này đã được giới nghiên cứu khẳng định một cách khoa học và có hệ thống.
Trong khuôn khổ của chương này, tác giả muốn khu biệt phạm vi nghiên cứu ở những mối liên hệ ìt được biết đến, từ thời kỳ cổ trung đại tới thời cận thế đánh dấu bằng sự kết thúc của Mạc phủ Edo và sự khủng hoảng của vương triều Nguyễn. Mặc dù không nhằm mục đìch đối chiếu, so sánh giữa hai nền văn hoá nhưng việc nghiên cứu những mối liên hệ truyền thống cũng sẽ giúp nhín nhận và đánh giá đúng đắn hơn về những điểm tương đồng hay dị biệt giữa hai dân tộc. Ngay từ thời đá cũ, con người đã sinh sống trên lãnh thổ Nhật Bản. Thời bấy giờ, vào thế Pleistocene, thời kỳ băng hà đạt đến mức độ tối đa, Nhật Bản vẫn là một bộ phận gắn liền với đại lục châu Á.
Đến thời hậu Pleistocene, cách đây khoảng 18.000 năm, Nhật Bản mới tách dần ra khỏi lục địa và tới thời Holocene thí hoàn toàn trở thành một quần đảo đơn biệt với các 4 đảo chình như ngày nay Như vậy từ thời tiền sử, con người vẫn có thể vượt qua đảo Tsushima để đến Triều Tiên, và từ Ryukyu, cư dân ở đây vẫn dựa vào chuỗi đảo trải dài xuống phìa Nam để vừa truyền tải, vừa duy trí những mạch nguồn văn hoá với khu vực Đông Nam Á…1 Dựa vào những kết quả nghiên cứu, nhà khảo cổ học người Nga P.Boriskovki đã cho rằng: Vào “sơ kỳ thời đại đồ đá mới ở miền Trung nước Nhật thể hiện những mối liên hệ với nền Văn hoá Hoà Bính, Bắc Sơn ở Việt Nam. Trong thời đại đồ đá mới ở Nhật Bản, cũng như ở bán đảo Sakhalin và quần đảo Kurile, có những loại ríu mặt bằng hính bầu dục được mài qua loa ở lưỡi. Những chiếc ríu này giống như những chiếc ríu của nền Văn hoá Hoà Bính I - III. Loại ríu và thạch bôn được mài một mặt giống như những chiếc ríu ở Bắc Sơn II”.[107] Mặc dù khả năng ảnh hưởng trực tiếp của văn hoá Hoà Bình đến Nhật Bản vẫn chưa được xác định một cách chắc chắn nhưng những dấu vết rõ nét của văn hoá Hoà Bình cũng đã được tím thấy ở Indonesia.
Rất có thể từ đây, văn hoá Hoà Bình đã ảnh hưởng xuống phương Nam, tới châu Úc rồi thông qua quần đảo Phillipines, 1 Trìch theo Nguyễn Văn Kim [10] 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua nền văn hoá đá mới nổi tiếng này đã truyền đến Đài Loan, Ryukyu và Nhật Bản. Khi viết về Đông Nam Á, nhà khảo cổ học người Mỹ W.Solheim II đã cho rằng: “Người Hoà Bính đã biết làm gốm vặn thừng cách đây một vạn năm. Các văn hoá đá mới ở Trung Quốc như Ngưỡng Thiều, Long Sơn đều bắt nguồn từ tiểu Văn hoá Hoà Bính và di động từ Nam lên Bắc. Người Đông Nam Á đã dùng thuyền vượt biển từ 10.000 năm TCN đến Đài Loan và Nhật Bản, mang đến Nhật nghề trồng taro và các giống cây trồng khác”2.
Khi nghiên cứu văn hoá Jomon - nền văn hoá đến nay vẫn đang được coi là thời đại văn hoá tạo dựng những cơ sở hết sức quan trọng cho sự phát triển của văn hoá Nhật Bản từ 10.000 TCN đến 300 TCN, không ìt các nhà khoa học cho rằng, người Jomon có ngôn ngữ và văn hoá gần với khu vực Nam Trung Hoa và Đông Nam Á. Kế thừa truyền thống văn hoá Jomon, đến thời Yayoi (từ 300 TCN đến năm 250) một số kiểu dáng mộ chum của thời kỳ này cũng chứng tỏ sự gần gũi với kiểu dáng và môtìp trang trì như các mộ chum thuộc văn hoá Sa Huỳnh - Nam Trung Bộ Việt Nam. Mô tìp trang trì rất đa dạng: dạng hính trụ, hính trứng, hính cầu; giữa trụ và trứng, được trang trì nhiều loại hoa văn, có chum trang trì văn đập xung quanh vai, có chum trang trì vặn thừng toàn thân, đa số các chum để trơn phần thân và đáy. Cách thức bài trì trên nắp, quanh vai và thân mộ chum thường đặt đồ gốm như nồi bính niên, bát đèn; bên trong là đồ trang sức như khuyên tai hính bông hoa rau muống, hính đầu thú.
Tuy nhiên cũng có những bằng chứng xác thực để nhiều nhà khoa học ủng hộ quan điểm về sự thiên di của một số nhóm người thời tiền sử Đông Nam Á đến Nhật Bản qua Đài Loan và Ryukyu. Nội dung và cách luận giải trong một số truyện thần thoại, tập quán xã hội và kiến trúc cổ Đông Nam Á hiện vẫn được bảo tồn ở Nhật Bản. Có thể thấy ở văn hóa Jomon mang nhiều đặc tình của văn hoá Đông Nam Á mà tục lệ cà răng, nhuộm răng, ở nhà sàn là tiêu biểu. Ở Okinawa, các nhà khảo cổ cũng đã khai quật được những mảnh gốm và ríu được chế tác từ ốc biển (loại ốc mặt trăng turbo) giống những hệ gốm - ríu của nền văn hoá Xóm Cồn (Cam Ranh, Khánh Hoà) hay những hiện vật tương tự tím thấy ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).
Hẳn là từ vài ngàn năm trước đã từng tồn tại “một dải văn hoá của cư dân thuộc ngữ hệ Nam Đảo ở ven biển và các đảo gần bờ biển thuộc biển Đông và vùng biển Tây – Nam Thái Bính Dương”[2] Sự chia cắt tự nhiên của các vùng địa lý Nhật Bản, môi trường sống cũng như khả năng giao hoà với các nền văn hoá khu vực cũng tạo nên sự đa diện của văn hoá Jomon 2 Trìch theo Nguyễn Văn Kim [44, tr.319] 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và các thời đại văn hoá tiếp theo. Cùng với việc đi sâu nghiên cứu về mặt nhân chủng cùng các yếu tố môi trường, văn hoá và các thành tố liên quan khác, ngôn ngữ cũng là một đối tượng có vai trò quan trọng được tình đến. Nhật ngữ là một ngôn ngữ đa âm tiết, có nhiều dạng biến cách, gắn với tiếng Triều Tiên, Altai. Theo các chuyên gia, Nhật ngữ cũng được định hính từ sớm nên về sau mặc dù vẫn chịu nhiều ảnh hưởng của Hàn ngữ, Hán ngữ và cả một số ngôn ngữ khu vực Đông Nam Á nhưng nó vẫn là một ngôn ngữ riêng biệt, có cấu trúc, đặc tình ngôn ngữ riêng.
Ngôn ngữ của người Ryukyu với Nhật ngữ được coi là cùng một ngữ hệ trong khi đó tiếng Ainu lại khác biệt căn bản với Nhật ngữ. Các nhà nghiên cứu cũng thấy tình chất đa dạng trong sự pha trộn của tiếng Nhật. Ngoài việc chịu ảnh hưởng sâu sắc của Hán ngữ và Hàn ngữ thí Nhật ngữ cũng đồng thời tiếp nhận những yếu tố ngôn ngữ của một số dân tộc khác ở cả hai khu vực Bắc Á và Đông Nam Á. Gần đây trong công trính “Sự hính thành tiếng Nhật” trên cơ sở nghiên cứu so sánh tiếng Tamil cổ với các tác phẩm văn học của Nhật Bản, giáo sư ngôn ngữ học Ono Susumi cho rằng: “Tiếng Nhật có cấu trúc ngữ pháp và từ vựng rất gần với tiếng Tamil cổ.
Cũng theo giáo sư Ono, con đường truyền bá ngôn ngữ đó cũng đồng thời là con đường lan toả của cây lúa nước từ miền Nam Ấn Độ đến Nhật Bản”. Những cứ liệu lịch sử cho thấy, các dòng thiên di lớn đến Nhật Bản đã kéo dài đến tận thời Kofun và vào khoảng thế kỷ VIII thí sự thống nhất về ngôn ngữ và chủng tộc đã hoàn thành. [2] Điều đó khẳng định rằng, những thành tố văn hoá của các dân tộc phương Nam đã có một ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần tạo dựng nên nền văn hoá Nhật Bản giàu bản sắc từ thời cổ trung đại. Những mối liên hệ thời cận thế Thời kỳ Bắc thuộc là thời kỳ mà mối liên hệ văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản đến nay còn ìt được biết đến.
Điều này cũng dễ hiểu, ví đồng thời với sự đô hộ của phong kiến phương Bắc tại Việt Nam thí đây cũng là thời kỳ mà Nhật Bản chịu những ảnh hưởng Hán hoá sâu sắc nhất. Cái bóng quá lớn của Trung Hoa và Ấn Độ đã khiến cho mối liên hệ này dường như mờ nhạt đi. Tuy nhiên, sử sách cũng đã ghi lại rằng: Giữa thế kỷ VIII, các nhà sư từ vùng Lâm Ấp (nay thuộc tỉnh Quảng Bính đến Quảng Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay) cũng đã sang Nhật Bản truyền đạo, biểu diễn âm nhạc tôn giáo… [19] Trong những buổi đầu bính minh của chế độ phong kiến Việt Nam, nhà Lý đã thực hiện nhiều chình sách kinh tế tìch cực và một chủ trương đối ngoại khá rộng mở với các nước trong khu vực và với Nhật Bản nói riêng. Ví vậy, nhiều thuyền buôn nước 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngoài đã thường xuyên đến cảng của Đại Việt để giao thương.
Ngoài thương thuyền Trung Quốc, chắc chắn đã có nhiều thuyền Đông Nam Á và khoảng từ cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, nhiều khả năng, thuyền buôn của vương quốc Ryukyu, một số bộ phận của lãnh thổ Nhật Bản ngày nay, cũng đến trao đổi hàng hoá tại Vân Đồn và một số thương cảng khác của Việt Nam. Thực tế cho thấy sự giao lưu kinh tế và văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản là xuyên suốt trong lịch sử nhưng đặc biệt hưng thịnh vào thế kỷ XV-XVII. Trong hành trính mậu dịch Đông Á, khu vực Đông Nam Á là nơi chuyển tiếp quan trọng trong nền thương mại hàng hải giữa Trung Hoa và vùng Tây Á. Từ thế kỷ thứ III và IV, con đường thương mại hàng hải quốc tế nối liền Trung Hoa và thế giới Ấn độ, Tây Á chạy từ các hải cảng ở vịnh Ba Tư và Hồng Hải đến bờ biển Ấn Độ, tới Sri Lanka, vịnh Bengal và bán đảo Mã Lai.
Hàng hóa sau đó được trao đổi ở một số địa điểm dọc theo eo đất Kra và chuyên chở qua bờ biển phìa đông của bán đảo Mã Lai. Hàng hóa Tây Á từ đó tiếp tục cuộc hành trính đến Trung Hoa qua vịnh Thái Lan và bờ biển Phù Nam trên những thuyền Mã Lai.