Chương 1: Bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu – Nội dung và tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay. Chương 2: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay- những nhân tố tác động, thực trạng và giải pháp. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU – NỘI DUNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Khái niệm về văn hóa, bản sắc văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc 1.
Khái niệm văn hóa Văn hóa là gì? Câu hỏi được đặt ra từ lâu đối với tư duy của nhân loại, điều này chứng tỏ văn hóa đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, văn hóa được như là một cái gì thiêng liêng đối với mỗi con người, linh hồn của dân tộc. Với tư cách là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng, vì thế nó đã tạo nên diện mạo phong phú và đa dạng của đời sống tinh thần của con người, thời đại. Văn hóa được chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, trở thành thuật ngữ đa nghĩa, trên thế giới hiện nay có hàng trăm cách định nghĩa khác nhau về văn hóa và nhiều cách tiếp cận khác nhau: * Một số quan niệm về văn hóa ở phương Đông và phương Tây - Ở phương Đông: Thế kỷ VI –Trước Công Nguyên, Khổng Tử đã dùng thuật ngữ “Văn” để chỉ những giá trị đẹp của cuộc sống, trong sự giao tiếp, ứng xử của con người với con người. Cái đẹp ấy không chỉ là cái đẹp ở hình thức, mà nó bao hàm cả cái đúng và cái tốt.
“Hoá” nghĩa là biến cải, biến đổi. Và “Văn hoá” là biến cải, biến đổi, bồi đắp cho đẹp ra, hướng con người đến cái đẹp và đạt tới chân - thiện - mỹ. Văn hóa sớm xuất hiện trong ngôn ngữ ngay từ Trước Công Nguyên, thời kỳ Tây Hán, trong bài “Chi Vũ” sách “Thuyết Uyển”, Lưu Hướng đã viết: “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn đức rồi sau mới dùng vũ lực” văn hóa được dùng để đối lập với vũ lực. Văn hóa phải được hình thành trong môi trường lành mạnh, ở đó con người có những cách ứng xử văn minh, văn hóa mang tính giáo dục cao.
Quan niệm về văn hóa theo PGS. Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động và thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”[52,tr. Văn hóa được đề cập khá toàn diện và sâu sắc, văn hóa là một chỉnh thể, vừa mang tính đa dạng vừa là sự thống nhất của nhiều thành tố, thông qua hoạt động thực tiễn của con người những giá trị đó được kết tinh thành văn hóa. Tác giả khẳng định, văn hóa trước hết phải có tính hệ thống để phân biệt với tính tập hợp.
Từ đó, tạo nên mối liên hệ giữa các hiện tượng thuộc về văn hóa, những quy luật về sự hình thành và phát triển của nó. Trong định nghĩa trên, tác giả còn cho ta thấy tính “giá trị” của văn hóa. Tính giá trị được nhấn mạnh để phân biệt với phi giá trị. Sự phân biệt đó cho phép ta có được cái nhìn biện chứng khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật hiện tượng, tránh được sự phủ định sạch trơn hay xu hướng cực đoan trong việc tìm hiểu văn hóa.
Ở một khía cạnh khác, văn hóa với đặc trưng là tính nhân sinh, cho phép phân biệt như một hiện tượng xã hội để văn hóa (vật chất do con người sáng tạo ra) với các giá trị tự nhiên (nhân tạo). Bàn về văn hóa, GS. Phan Ngọc khẳng định: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cá nhân hay tộc các người khác”[41,tr.
Tác giả quan niệm văn hóa như một thế giới biểu tượng, theo đó văn hóa là hiện tượng vừa phổ biến lại vừa mang tính cá biệt. Nó phổ biến với tính cách một đặc điểm chung của con người, bắt gặp ở mọi thể cộng đồng. Con người ở đâu cũng sống cùng một lúc với hai thế giới, thế giới thực tại và thế giới các biểu tượng. Con người không chỉ sống trong hiện tại mà sống cả trong quá khứ và tương lai, hai yếu tố thuộc thế giới biểu tượng.
Cách ứng xử của con người xuất phát từ một hệ thống những nguyên lý trừu tượng của thế giới ý niệm đã hình thành một cách gần như tự nhiên. Ngoài ra, khi nghiên cứu về văn hóa ta có thể thấy trong “Việt Nam Văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh đã đưa ra quan niệm: Người ta thường cho rằng văn hoá chỉ là những học thuật tư tưởng, của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chât các dân tộc khác nhau của loài người, nhân thế mà xem văn hoá có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải như vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên là trong phạm vi của văn hoá nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải là ở trong phạm vi của văn hoá hay sao? Hai tiếng “văn hoá” chẳng qua chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người, cho nên ta có thể nói rằng: Văn hoá tức là sinh hoạt.
Quan niệm này cũng đã đồng nhất văn hoá với xã hội. Cũng có những định nghĩa khác coi là phong tục, tập quán, tín ngưỡng; lúc thì được coi là chuẩn mực, lối sống… Thật vậy, thuật ngữ văn hóa được sử dụng rộng rãi trong nhiều bộ môn khoa học cụ thể, làm cho mỗi nó tìm thấy những phương diện phù hợp với vấn đề mà nó giải quyết. Tác giả Đào Duy Anh tiếp cận văn hóa trong mối quan hệ của các yếu tố cấu thành nên đời sống xã hội: con người, đời sống sinh hoạt và văn hóa. Con người là chủ thể của văn hóa, là lực lượng sáng tạo nên các giá trị văn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa thông qua các phương thức sinh hoạt tức là các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần, hoạt động nghệ thuậ.
Văn hóa với tư cách là những giá trị vật chất và giá trị tinh thần cho con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và trong cuộc đấu tranh xã hội. Chính nhờ có văn hóa mà con người khác với động vật, không phải là động vật. Sự tiến bộ của văn hóa đánh dấu sự trưởng thành của con người trên bước đường tiến hóa văn hóa đã nâng người lên cao hơn động. Qua những nghiên cứu về văn hóa các tác giả hầu hết đi khai thác văn hóa theo chiều cạnh là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, nhưng mới chỉ dừng lại ở góc độ văn hóa học chưa thực sự nêu bật được bản chất của văn hóa.
- Ở phương Tây: Văn hóa còn được quan niệm là những giá trị tinh thần. Theo tiếng Latinh là Cultus animi là trồng trọt tinh thần. Do đó, văn hóa được tìm hiểu bởi hai khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất: Văn hóa được hiểu như là một sự “gieo trồng tư tưởng”. Khía cạnh thứ hai: Xem văn hoá như là “tự nhiên thứ hai” do con người sáng tạo ra và đối lập với “tự nhiên thứ nhất”.
Đây là cách xem xét phổ biến trong quan niệm của các nhà tư tưởng thời kỳ Phục Hưng và Cận Đại. Ở giai đoạn này, người ta đã nhận thấy văn hoá là kết quả của sự phát triển của con người, đồng thời văn hoá là đặc trưng và cơ sở để hình thành nên con người xã hội. Có thể nói, trường phái triết học duy tâm cổ điển Đức đã có nhiều đóng góp đáng kể trong việc xây dựng khái niệm văn hoá, tiêu biểu là I.Kant: Văn hoá là giá trị của con người, hay đó là: Sự phát triển những lực lượng tự nhiên của con người và là khả năng lấy mình làm mục đích, bằng cách sử dụng tự nhiên làm phương tiện để đạt được mục đích tự do và khả năng của con người có thể lấy mình với tư cách một tồn tại tự do làm mục đích cuối cùng của sự tồn tại của mình.Kant đã coi con người là tồn tại tối cao, với quan niệm này đưa ông tới chỗ tuyệt đối hoá 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vai trò của con người trong việc sáng tạo ra các giá trị văn hoá và dẫn con người ta đến chỗ đối lập tuyệt đối với tự nhiên, tự coi mình là kẻ có quyền “bóc lột” tự nhiên và hành động như thế tất yếu sẽ bị “trả giá” trước sự tác động của tự nhiên đối với con người. Những tác động có hại của tự nhiên đối với con người như hạn hán, bão lụt, những tác động của biến đổi khí hậu ngày nay đang đặt con người trước những khó khăn thách thức nhất là trong giai đoạn hiện nay.F Hegel, một nhà triết học cổ điển Đức, xem xét khái niệm văn hoá bằng cách ra một loạt mối quan hệ nhân cách - văn hoá, tìm hiểu về sự kế thừa trong phát triển văn hoá, về tính phổ quát của các quá trình xã hội - văn hoá.F Hegel đã nhận thấy yếu tố qua trọng của con người là xã hội và trong mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội, con người sáng tạo ra văn hoá.
Tuy nhiên, sự lý giải của ông còn thiếu tính toàn diện, thường mâu thuẫn và mang nặng tính tư biện. Với quan niệm về thế giới “ý niệm tuyệt đối” đã đưa ông đến quan điểm đồng nhất văn hoá với hoạt động sản xuất tinh thần được thể hiện thông qua bộ phận tri thức xã hội. Hegel đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của tồn tại hiện thực đối với lịch sử phát triển của văn hoá.