Bài giảng Vật lý Xây dựng tại Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Vat lý xây dựng, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Kỹ thuật Xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

bài giảng

2014

208
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÍ HẬU NGOÀI NHÀ VÀ VI KHÍ HẬU TRONG CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC

1.1. Khái quát khí hậu

1.2. Mặt trời và chuyển động biểu kiến của mặt trời

1.2.1. Mặt trời

1.2.2. Quy luật chuyển động của trái đất quay xung quanh mặt trời

1.2.3. Chuyển động biểu kiến của mặt trời

1.2.4. Hai cách xác định vị trí mặt trời

1.2.4.1. Cách 1: dùng công thức tính toán
1.2.4.2. Cách 2: dùng biểu đồ chuyển động biểu kiến của mặt trời

1.3. Bức xạ mặt trời

1.3.1. Trực xạ

1.3.2. Tán xạ

1.3.3. Tính tổng xạ

1.4. Bóng đổ của công trình kiến trúc

1.5. Các thông số vật lý của không khí và biểu đồ không khí ẩm

1.5.1. Các thông số vật lý của không khí

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Vật lý Xây dựng tại Trường Đại học Lâm nghiệp

Vật lý Xây dựng (VLXD) là môn học cơ sở quan trọng trong ngành Kỹ thuật Xây dựng công trình. Tại Trường Đại học Lâm nghiệp, môn học này không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn giúp sinh viên áp dụng vào thực tiễn. Chương trình học VLXD được thiết kế để sinh viên nắm vững các hiện tượng vật lý xảy ra trong và ngoài công trình, từ đó có thể điều chỉnh các thông số vật lý nhằm tạo ra môi trường sống tiện nghi.

1.1. Tổng quan về chương trình học Vật lý Xây dựng

Chương trình học VLXD tại Trường Đại học Lâm nghiệp bao gồm 11 chương, tập trung vào các lĩnh vực như khí hậu, nhiệt kiến trúc và môi trường âm thanh. Mỗi chương được xây dựng để sinh viên có thể hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến thiết kế công trình.

1.2. Vai trò của Vật lý Xây dựng trong ngành Kỹ thuật

VLXD đóng vai trò quan trọng trong việc thiết kế và xây dựng công trình. Nó giúp sinh viên hiểu rõ cách thức các yếu tố vật lý tác động đến chất lượng công trình, từ đó đưa ra các giải pháp thiết kế hợp lý.

II. Thách thức trong việc giảng dạy Vật lý Xây dựng

Giảng dạy VLXD tại Trường Đại học Lâm nghiệp gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc truyền đạt kiến thức lý thuyết và thực tiễn. Sinh viên cần phải nắm vững các khái niệm vật lý phức tạp và áp dụng chúng vào các tình huống thực tế. Điều này đòi hỏi giảng viên phải có phương pháp giảng dạy hiệu quả.

2.1. Khó khăn trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn

Một trong những thách thức lớn nhất là giúp sinh viên áp dụng lý thuyết vào thực tiễn. Nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc hình dung các khái niệm vật lý khi không có ví dụ thực tế.

2.2. Cần cải tiến phương pháp giảng dạy

Để nâng cao hiệu quả giảng dạy, cần cải tiến phương pháp giảng dạy VLXD. Việc sử dụng công nghệ và mô hình thực tế có thể giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về môn học.

III. Phương pháp giảng dạy Vật lý Xây dựng hiệu quả

Để nâng cao chất lượng giảng dạy VLXD, Trường Đại học Lâm nghiệp đã áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy hiện đại. Các phương pháp này không chỉ giúp sinh viên tiếp thu kiến thức mà còn khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện.

3.1. Sử dụng công nghệ trong giảng dạy

Việc áp dụng công nghệ như mô phỏng 3D và phần mềm thiết kế giúp sinh viên hình dung rõ hơn về các khái niệm vật lý trong xây dựng. Điều này tạo ra môi trường học tập tương tác và sinh động.

3.2. Tổ chức các buổi thực hành thực tế

Các buổi thực hành tại công trường xây dựng giúp sinh viên áp dụng lý thuyết vào thực tiễn. Đây là cơ hội để sinh viên trải nghiệm và hiểu rõ hơn về công việc của một kỹ sư xây dựng.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Vật lý Xây dựng

Vật lý Xây dựng không chỉ là lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong ngành xây dựng. Tại Trường Đại học Lâm nghiệp, sinh viên được khuyến khích nghiên cứu và phát triển các giải pháp thiết kế dựa trên các nguyên lý vật lý.

4.1. Thiết kế công trình bền vững

Sinh viên học cách áp dụng các nguyên lý vật lý để thiết kế các công trình bền vững, tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay.

4.2. Nghiên cứu và phát triển vật liệu mới

Nghiên cứu về vật liệu xây dựng mới giúp cải thiện chất lượng công trình. Sinh viên được khuyến khích tham gia vào các dự án nghiên cứu để phát triển các vật liệu có tính năng ưu việt hơn.

V. Kết luận và tương lai của Vật lý Xây dựng

Vật lý Xây dựng tại Trường Đại học Lâm nghiệp đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Với sự đầu tư vào cơ sở vật chất và chương trình giảng dạy, ngành VLXD hứa hẹn sẽ cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành xây dựng.

5.1. Tương lai của ngành Vật lý Xây dựng

Ngành VLXD sẽ tiếp tục phát triển và đóng góp vào sự phát triển bền vững của ngành xây dựng. Các nghiên cứu mới và công nghệ tiên tiến sẽ là động lực cho sự đổi mới trong thiết kế và xây dựng.

5.2. Khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu

Trường Đại học Lâm nghiệp khuyến khích sinh viên tham gia vào các dự án nghiên cứu và phát triển. Điều này không chỉ giúp sinh viên nâng cao kiến thức mà còn tạo cơ hội việc làm trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

10/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÍ HẬU NGOÀI NHÀ VÀ VI KHÍ HẬU TRONG CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC 1. Khái quát khí hậu Những nhân tố khí hậu trong lĩnh vực vật lý xây dựng cần xét đến là: Mặt trời, bức xạ mặt trời; không khí bao gồm nhiệt độ, độ ẩm không khí; gió, mưa. Mỗi nhân tố đều có ảnh hưởng đến sự hình thành đặc điểm kiến trúc và đòi hỏi những kiến thức kiến trúc, xây dựng thích hợp. Một công trình kiến trúc, xây dựng có chất lượng tốt phải thỏa mãn yêu cầu sử dụng và phù hợp với điều kiện khí hậu nơi xây dựng.

Mặt trời và chuyển động biểu kiến của mặt trời a. Mặt trời Mặt trời là một khối không khí nóng khổng lồ, có nhiệt độ bề mặt khoảng 6000K, liên tục phát năng lượng nhiệt ra xung quanh dưới dạng tia bức xạ và truyền đi bốn phương dưới dạng sóng điện từ. Trái đất chúng ta chỉ nhận được khoảng 1/2.000 tổng lượng bức xạ mặt trời. Sở dĩ mặt trời có nguồn năng lượng lớn như vậy là vì ở đó có quá trình phản ứng nhiệt hạch liên tục từ nguyên tử hyđrô biến thành nguyên tử hêli.

Trong thái dương hệ, mặt trời là hệ đứng yên. Trái đất quay xung quanh mặt trời một năm được một vòng và nó tự quay quanh mình nó một vòng trong một ngày đêm. Quy luật chuyển động của trái đất quay xung quanh mặt trời Trục tự quay của trái đất làm với mặt phẳng của quỹ đạo trái đất quay quanh mặt trời một góc nghiêng là 66o33’. Vì vậy mà góc của tia mặt trời chiếu xuống mỗi điểm trên bề mặt trái đất luôn thay đổi trong năm, tạo thành hiện 5 tượng ngày đêm dài ngắn khác nhau, cũng như tạo thành bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Trên hình 1-1, khi trái đất ở vị trí A thì tia chiếu của mặt trời làm với mặt phẳng xích đạo một góc về phía bắc  = 90o – 66o33’ = 23o27’ về phía bắc,  gọi là xích vĩ (hoặc góc xích vĩ - declination). Trong ngày này (21/6) vào giữa trưa ở Bắc Bán cầu mặt trời ở vị trí cao nhất, ban ngày dài nhất, ta gọi là ngày Hạ chí, còn ở Nam Bán cầu thì lại là ngày Đông chí. Khi trái đất ở vị trí B, tia mặt trời chiếu song song với mặt phẳng xích đạo ( = 0), đêm ngày dài bằng nhau, ta gọi là ngày Thu phân (23/9). Khi trái đất ở vị trí C, tia mặt trời chiếu lệch về phía nam mặt phẳng xích đạo một góc  = -23o27’, trong ngày này, ở Bắc Bán cầu năng lượng bức xạ chiếu trên đơn vị diện tích bề mặt sẽ nhỏ nhất và đêm dài, ngày ngắn, đó là ngày Đông chí (22/12), ở Nam Bán cầu, ngược lại, là ngày Hạ chí.

Khi trái đất ở vị trí D, tia mặt trời lại chiếu song song với mặt phẳng xích đạo, ( = 0), ngày đêm dài bằng nhau, đó là ngày Xuân phân (21/3). Trong các ngày khác trong năm góc giữa tia chiếu của bức xạ mặt trời và mặt phẳng xích đạo thay đổi từ  = 23o27’ đến - 23o27’. Chuyển động biểu kiến của mặt trời Khi giải các bài toán kiến trúc - khí hậu, chúng ta cần tính đến giá trị của Bức xạ mặt trời (BXMT) trực tiếp hoặc tổng cộng chiếu tới các bề mặt của kết cấu công trình. Cường độ của BXMT thay đổi phụ thuộc vào vị trí của bề mặt khảo sát so với tia nắng mặt trời như: các tường bao quanh (mặt đứng), mái nhà (mặt ngang).

Hoặc xét cùng một vị trí thì ở các thời điểm khác nhau trong ngày vị trí của mặt trời thay đổi do vậy BXMT cũng khác nhau. Để xác định vị trí của mặt trời chúng ta cần nghiên cứu “Chuyển động biểu kiến của mặt trời”. Theo định luật chuyển động tương đối, chúng ta có thể xem như trong một ngày đêm, mặt trời quay một vòng tròn quanh trái đất. Đứng ở điểm A trên mặt đất có vĩ độ φ (vĩ độ của địa điểm quan sát) quan sát mặt trời chuyển động (hình 1-2) trong một ngày mặt trời chuyển động trên một vòng tròn phẳng, khi mặt trời ở trên mặt phẳng chân trời là ban ngày và khi xuống thấp dưới chân trời là ban đêm.

Hình chiếu của quỹ đạo biểu kiến trên mặt phẳng chân trời Trên hình 1-2 có 3 đường chuyển động biểu kiến của mặt trời trong ngày Hạ chí, ngày Xuân phân, Thu phân và ngày Đông chí. Ta coi mặt trời chuyển động đều trong một ngày đêm và như vậy cứ một o giờ mặt trời đi được một cung bằng 360 = 15o trên vòng vận động của nó. Giờ 24giê này gọi là giờ trung bình của mặt trời (gọi tắt là giờ mặt trời). Giờ mặt trời không trùng với giờ hành chính thường dùng hàng ngày.

Ví dụ ở nước ta, lấy giờ trung bình mặt trời ở kinh tuyến 105o Đông (kinh tuyến qua Hà Nội là 105o45’) làm giờ hành chính chung cho cả nước. Như vậy giờ hành chính ở nước ta sớm hơn giờ hành chính ở Anh (kinh tuyến Greenwich) là 105 105 - 45 o  7 giờ và sớm hơn giờ hành chính của nước Nga (Moskva) là  4 giê. 15 15 Vào ngày Xuân phân (21/3) và Thu phân (23/9), mặt trời mọc ở đúng hướng Đông và lúc 6 giờ sáng (giờ trung bình mặt trời) và vào lúc 18 giờ chiều thì lặn ở đúng hướng Tây. Trong các ngày khác, mặt phẳng chuyển động của mặt trời dịch chuyển dần về phía Bắc (từ 21/3 đến 23/9), hoặc về Nam (từ 23/9 đến 21/3).

Tại các địa điểm ở Bắc Bán cầu thì từ 21/3 đến 23/9 ngày dài hơn đêm, từ 23/9 đến 21/3, đêm dài hơn ngày. Tại các điểm ở Nam Bán cầu thì ngược lại. Tại các điểm trên đường xích đạo ngày và đêm luôn luôn bằng nhau và bằng 12 giờ. Ở Bắc cực và Nam cực, trong một năm có 6 tháng ngày liền và 6 tháng đêm liền.

Hai cách xác định vị trí mặt trời Vị trí của mặt trời trên bầu trời vào một thời điểm bất kì được xác định bằng hai toạ độ cầu là góc độ cao “ho” và góc phương vị “Ao” (hình 1-3). Tọa độ mặt trời từ vị trí quan sát Cách 1: dùng công thức tính toán Từ các công thức quan hệ trong tam giác cầu “vĩ độ φ, xích vĩ  và góc thời gian Z” có thể tính được hai toạ độ đó bằng các công thức sau: sinh 0  sin  sin   cos cos cos Z cos sin Z sin A0  cos h 0 Hay sinh0 sin  - sin cos A0  (1.1) cosh0 cos ho - góc độ cao mặt trời (góc giữa tia mặt trời với mặt phẳng chân trời) φ - vĩ độ của địa điểm quan sát Ao - góc phương vị của mặt trời (góc hợp bởi hình chiếu của tia mặt trời xuống mặt phẳng chân trời với phương Nam chọn làm gốc có Ao= 0o); Z - góc giờ, tính như sau: lúc 12 giờ (giờ trung bình mặt trời) thì Z = 0, cứ trước hay sau đó một giờ lấy Z = 15o.15o  35o 3 góc xích vĩ  tính theo công thức: 360.(284  M )   23o27' sin 365 trong đó M là số thứ tự ngày kể từ ngày 1/1 đến 31/12, tức là ngày 1/1 có M=1, ngày 2/1 có M=2,. Phương pháp dựng biểu đồ quỹ đạo chuyển động biểu kiến của mặt trời Từ các công thức trên, có thể suy ra công thức để tính độ dài của ngày, góc phương vị của mặt trời lúc mọc và lặn, cũng như độ cao của mặt trời lúc 12 giờ trưa như sau: - Góc phương vị của mặt trời khi mọc (hay lặn), từ công thức (1.1), cho h0 = 0, ta có: sin  cos Ao   cos Bảng 1-1. Tọa độ mặt trời (h0, A0) trong các ngày đặc trưng tại Hà Nội (Giá trị các góc tính bằng độ) Xuân, Thu phân Đông chí Hạ chí Giờ h0 A0 h0 A0 h0 A0 6 0,0 90,0 - - 8,2 112,0 7 14,0 84,5 4,5 62,7 21,4 107,9 8 27,8 78,3 16,6 56,0 34,8 104,6 9 41,3 70,3 27,6 47,0 48,4 102,1 10 54,0 58,2 36,8 35,0 62,2 100,7 11 64,4 36,8 43,2 19,0 75,9 102,8 12 69,0 360,0 45,6 360,0 87,6 180,0 13 64,4 323,2 43,2 341,0 75,9 257,2 14 54,0 301,8 36,8 325,0 62,2 259,3 15 41,3 289,7 27,6 313,0 48,4 257,9 16 27,8 281,7 16,6 304,0 34,8 255,4 17 14,0 275,5 4,5 297,3 21,4 252,1 9 - Độ cao mặt trời lúc 12 giờ trưa: từ công thức (1.1), cho cosZ = 0, ta có: h0 = 90o - φ +  Giờ mặt trời mọc hay lặn: từ công thức tính giờ trung bình của mặt trời, sinh 0 - sin sin  khi đã biết độ cao mặt trời là cos Z  , cho h0 = 0 ta sẽ được cos  cos công thức tính giờ mặt trời mọc hay lặn.

cos Z = - tgφtg Cách 2: dùng biểu đồ chuyển động biểu kiến của mặt trời Để giải quyết các bài toán về che nắng, chiếu nắng, xác định bóng đổv.v… người ta biểu diễn đường đi của mặt trời qua các ngày tháng trong năm trên một biểu đồ gọi là biểu đồ chuyển động biểu kiến của mặt trời. Nguyên tắc biểu diễn là chiếu vị trí của mặt trời lên mặt phẳng chân trời của địa phương (hình 1-4). Tại những địa phương nằm gần các vòng bắc cực hay nam cực (như St- Peterburg chẳng hạn), ban ngày mùa đông rất ngắn thậm chí bằng 0 giờ, còn ban ngày mùa hè rất dài có thể tới 24 giờ. Tại những địa phương này, những ngày gần hạ chí thường gọi là những đêm trắng.

Khác với Hà Nội, tại những địa phương này mặt trời không bao giờ đi qua đỉnh đầu, vì vậy trong các công trình xây dựng có thể lấy ánh sáng bằng các cửa kiểu giếng trời mà không bị nắng chiếu vào nhà. Bức xạ mặt trời Quang phổ bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất có bước sóng  = 0,17 – 4 m, với năng lượng bức xạ tập trung trong khoảng bước sóng từ 0,4 – 1 m trong đó 50% năng lượng bức xạ nằm Hình 1-5. Bức xạ mặt trời trực tiếp trong vùng tia nhìn thấy (ánh sáng) ( = khuếch tán và tổng cộng 0,38 - 0,76 m), 43% nằm trong phần hồng ngoại ( > 0,76 m) và 7% trong phần tử ngoại ( < 0,38 m). Ở ngoài khí quyển, bức xạ mặt trời cực đại ở bước sóng  = 0,47 m (nằm giữa màu xanh biếc và màu da cam).

Quang phổ bức xạ ở gần mặt đất 10 được giới hạn trong phạm vi bước sóng  = 0,29 - 4,0 m và cực đại ở bước sóng  = 0,56 m (màu da cam). Năng lượng bức xạ mặt trời được đo bằng đơn vị Calo hay Watt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ