Phần mở đầu thông thường được trình bày theo 3 vấn dé sau: trình bày mục đích của cuộc điều tra; hướng dẫn cho người được phỏng vấn cách trả lời câu hỏi; khẳng định tính khuyết danh của cuộc điều tra. + Phần nội đung gồm: những câu hỏi đầu tiên là những câu hỏi về nhân khẩu học, dễ trả lời. Tiếp đó là các câu hỏi tâm tư tình cảm. Luu ý: đặt những câu hỏi có chức năng tâm lý xen kẽ những câu hỏi nội dung dé tao tâm lý thoải mái, giảm căng thẳng mệt mỏi.
Các câu hỏi có sự đồng nhất. + Phần kết luận: lời cảm ơn. Phương pháp thực nghiệm 2. Khái niệm „ Thực nghiệm là phương pháp nghiên cứu khoa học có sự tác động tích cực đên một tiến trình nào đó với mục đích nhận thức khoa học, tức là thông qua việc kiểm tra giả thuyết này hay giả thuyết khác để có những tri thức mới có giá trị lý luận và thực tiễn.
Cũng có thể hiểu thực nghiệm là phương pháp thu nhận và phân tích các tài liệu kinh nghiệm nhằm kiểm tra giải thuyết về những mối quan hệ nhân — quả giữa các hiện tượng và các quá trình xã hội. Phương pháp thực nghiệm thực chất là một quá trình mà nhà nghiên cứu cần tách ra khỏi đối tượng nghiên cứu những biến số độc lập và các biến số phụ thuộc, chủ động tác động lên những biến số độc lập một “lực” nhất định nảo đó nhằm theo dõi những biến đổi diễn ra ở các biến số phụ thuộc.2 Phân loại thực nghiệm - Thực nghiệm ở hiện trường - Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm - Thực nghiệm kiểm tra - Thực nghiệm tự nhiên 2. Yêu cầu của phương pháp thực nghiệm Tiên hành thực nghiệm cân đảm bảo: 16 + Tính có căn cứ bên trong của nó — tức là xác định được mối quan hệ phụ thuộc mang tính nhân — quả, giữa biễn đỗi của các biến số độc lập và các biến số phụ thuộc. + Tính có căn cứ bên ngoài của nó, nghĩa là những kết luận rút ra được từ những thực nghiệm có fhể ngoại suy (hay ứng dụng) sang những tình huống tương tự có điều kiện tương đồng.
Thực nghiệm là sự quan sát tập trung, nhằm vào việc cải tạo đối tượng trên cơ sở của một giả thuyết làm việc nhất định. Đối tượng của nghiên cứu thực nghiệm có thể là một phương pháp nghiên cứu mới hoặc là một phương pháp hoạt động mới. Điểm đáng chú ý là việc áp dụng một phương pháp nào đó sau khi đã thử nghiệm thì lúc đó nó sẽ không được coi là thử nghiệm nữa mà là một phương tiện, công cụ nghiên cứu cũng như hoạt động cải tạo thực tiễn. Thực nghiệm nói chung là một giai đoạn của nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn.
Mỗi khi các giả thuyết khoa học đã được thực nghiệm chứng minh là đúng, lúc đó nó trở thành một phương tiện chắc chắn và tin cậy cho hoạt động cải tạo hiện thực của con người. Phương pháp nghiên cứu tình huống (rường hợp) Phương pháp nghiên cứu tình huống là việc phân tích tỉ mỉ một số trường hợp cụ thể nào đó nhằm giúp nhà nghiên cứu thu thập thông tin toàn diện, có hệ thống và sâu từ một số lượng nhỏ của đối tượng nghiên cứu. “Một trường hợp” ở đây có thể là một cá nhân, một sự kiện, một giai đoạn bệnh, một chương trình hay một cộng đồng. Nghiên cứu trường hợp đặc biệt cần thiết khi nghiên cứu viên cần có hiểu biết sâu về một số Tười, vấn đề và tình huống cụ thể, cũng như khi các trường hợp có nhiều thông tin hay mà có thể đem lại một cách nhìn sâu sắc về hiện tượng đang quan tâm.
Điều tra viên phải thực hiện một loạt các kỹ thuật như quan sát hoàn cảnh xảy ra tình huống, phỏng vấn, ghi chép, sao chụp lại toàn bộ những gì có liên quan tới đối tượng. "Trên phương diện nghiên cứu khoa học đặc biệt trong xã hội học, nghiên cứu tình huống là một phương pháp quan trọng khi vấn đề cần nghiên cứu là mới chưa có các lý thuyết và nghiên cứu trước đó - lúc này nghiên cứu tình huống sẽ cho cái nhìn rất sâu về vấn đề nghiên cứu đề xây dựng các lý thuyết nền, cơ sở đầu tiên cho các nghiên cứu lượng hóa tiếp theo và khi vấn đề nghiên cứu là một quá trình kéo dài chẳng hạn quá trình xây dựng, lựa chọn và thực thi các loại chiến lược cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành. Tuy nhiên cũng cần hết sức thận trọng khi sử dụng các kết quả từ nghiên cứu tình huống để khái quát hóa cho các trường hợp tương tự. 17 Ưu điểm: Tài liệu phong phú do cứ liệu thu được nhờ kỹ thuật phỏng vấn, quan sát, bảng hỏi có độ tin cậy tương đối cao.
Nhược điểm: thông thường những kết luận mà nhà nghiên cứu xã hội học rút ra từ những nghiên cứu này mang tính cụ thể (chỉ đúng cho trường hợp đó) không thể khái quát nó trên phạm vi rộng lớn hơn (vì không ai có thể khẳng định được rằng những kết luận rút ra trong trường hợp này lại có thể đúng trong các trường hợp khác); Mẫu khảo sát thường nhỏ nên tài liệu thu được cũng bị giới hạn. Phương pháp chọn mẫu 2. Khái niệm - Sa - | Mẫu là một bộ phận của tông thê điêu tra được lựa chọn đê trực tiêp thu thập thông tin và có khả năng suy rộng cho tổng thể điều tra đó. Chọn mẫu chính là quá trình sử dụng các phương pháp khác nhau nhằm tìm ra được một tập hợp các đơn vị (nhóm xã hội) mà những đặc trưng và cơ cấu được nghiên cứu của chúng có thể đại diện cho một tập hợp xã hội lớn hơn.
Lý do phải chọn mẫu: + Các cá nhân trong các nhóm có thẻ chịu những ảnh hưởng chung, có những cái chung do vậy có thể áp dụng một số công thức toán để tiến hành điều tra chọn mẫu. + Tiết kiệm thời gian và kinh phí. + Điều tra toàn bộ có thể làm mắt tính thời sự của thông tin. + Nhiều vấn đề không thể điều tra tổng thể được, nhất là trong kinh tế như kiểm tra chất lượng sản phẩm.
+ Cơ cấu trong xã hội thường rất đa đạng và phức tạp.1 Các phương pháp chọn mẫu „ - Chọn kinh nghiệm và xét đoán (điên hình) + Lấy mẫu thuận tiện: lựa chọn một đơn vị nghiên cứu nào đó dễ thu thập thông tin nhất mà nhà nghiên cứu cho rằng có thể đảm bảo mẫu đó đại diện cho khách thể lựa chọn. Phương pháp này không có khả năng suy rộng ra tổng thé. + Lấy mẫu tích lũy nhanh: đầu tiên nhà xã hội học lựa chọn một số người đề điều tra, sau đó thu thập thông tin đối với những người này và nhờ người đó chỉ giúp tới những mẫu tiếp theo. + Lẫy mẫu phán đoán (theo đư luận, theo thống kê).
+ Lấy mẫu tỷ lệ: trước hết nhà nghiên cứu chia khối dân cư thành các nhóm khác nhau theo một cơ sở nhất định. Sau đó mẫu được chọn bằng cách lay từ mỗi nhóm một số đối tượng điền hình (tiêu biểu và đại điện cho nhóm). - Chọn mẫu ngẫu nhiên: + Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản: các đơn vị được lựa chọn vào mẫu một cách trực tiếp, xác suất lựa chọn là tương đương nhau. 18 Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản hoàn lại: từ một danh sách tổng thể lấy ngẫu nhiên đơn vị nào đó, sau đó ghi họ tên họ vào danh sách mẫu rồi trả lại tổng thể và tiếp tục chọn đơn vị thứ 2 rồi chọn đủ số mẫu cần thiết.
Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản không hoàn lại: từ một danh sách tổng thể lấy ngẫu nhiên 1 đơn vị nào đó sau đó ghi vào danh sách mẫu rồi bỏ đơn vị đó ra khỏi danh sách ban đầu. + Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống: đơn vị đầu tiên được lựa chọn một cách ngẫu nhiên, các đơn vị tiếp sau được lựa chọn một cách có hệ thống theo công thức K=N/M. Trong đó: n: Số người (đơn vị) của mẫu N: Số người (don vị) của tổng thé K: Khoảng cách giữa hai người trong mẫu + Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân chùm: Tổng thể được chia thành những chùm thỏa mãn các quy tắc: Mỗi đơn vị nghiên cứu được phân vào một chùm. Mỗi chùm cố gắng chứa nhiều đơn vị khác nhau sao cho sự phân bố các đơn vị của nó giống như tổng thể.
Giữa các chùm có sự chênh lệch tương đối giống nhau. Chọn một số chùm theo ngẫu nhiên và điều tra toàn bộ các đơn vị nghiên cứu trong chùm. + Phương pháp chọn mẫu phân tổ: tổng thể điều tra cũng được phân thành các tổ sau cho thỏa mãn các quy tắc: Mỗi đơn vị của tổng thể được phân vào một tổ. Mỗi tổ cố gắng chứa các đơn vị giống nhau đặc biệt về các tiêu thức điều tra.
Các tô là khác nhau. Sử dụng lại các nguồn số liệu sẵn có ` - Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có bao gồm phương pháp phân tích thứ cấp, phân tích tư liệu thống kê hiện có, phương pháp lịch sử và phân tích nội dung. Trong những nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, người ta cũng thường hay sử dụng một trong những phương pháp phân tích tư liệu sẵn có, đặc biệt là phương pháp phân tích thứ cắp và phương pháp phân tích số liệu thống kê sẵn có. Dựa trên những số liệu sẵn có của tài liệu (báo cáo thống kê, báo chí.) từ đó phân nhóm thông tin, nhóm các dấu hiệu theo những thang đo đã định trước, tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa những số liệu đó.
Phương pháp này sử dụng trong những trường hợp phải xử lý một lượng thông tin lớn. 19 Ưu điểm: thông tin nhanh, chi phí ít tốn kém; Thông tin thu thập qua đạng này nhiều và đa dạng nên có thể so sánh theo thời gian; sử dụng nhiều số liệu thống kê nên số liệu này có độ chính xác cao. Nhược điểm: số liệu phong phú nhưng số liệu cần thiết, mong muốn lại rất ít vì những số liệu này phục vụ cho những vấn đề khác nhau; Việc tổng hợp số liệu khó khăn và phức tạp đo tính chất thông tin không đồng nhất, nhất là về thang đo; Ngoài việc thu thập số liệu bằng thống kê, những số liệu khác mang tính chất chủ quan nhiều hơn, thường minh họa điển hình của ý muốn chủ quan. Viết và trình bày báo cáo 2.
Khái niệm - Cũng có thê nói theo ngôn ngữ thông thường là “biên soạn báo cáo”. Bước này kết thúc quá trình cuộc điều tra.