Chương 4 XÃ HỘI HÓA Xã hội càng phát triển vai trò con người càng lớn và được coi trọng. Ngày nay con người được quan tâm theo cả hai góc độ: mục đích và phương tiện. Ở nước ta con người được xác định là nhân tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Bởi vậy, đòi hỏi con người càng được hoàn thiện trên cả hai phương diện: trí và đức.
Điều này chỉ có thể đạt được thông qua quá trình xã hội hóa cá nhân con người giúp họ hoàn thiện nhân cách. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HÓA 1. Bản chất con người Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Tuy nhiên, trong nghiên cứu xã hội học con người được xác định là đơn vị nhỏ nhất và cơ bản nhất của hệ thống xã hội và cấu thành xã hội.
Mặt khác, con người là một sinh vật có tư duy, sống theo tổ chức cộng đồng. Khi nghiên cứu con người, xã hội học không chỉ quan tâm đến từng con người riêng biệt mà còn quan tâm đến con người tồn tại trong mối quan hệ ràng buộc, tương tác với nhau. Bản chất xã hội của con người thể hiện ở những góc độ khác nhau. - Từ góc độ tự nhiên, con người là sinh vật bậc cao, có bản năng sinh tồn duy trì nòi giống.
Bản năng tự nhiên của con người được quy định bởi quá trình tiến hóa lâu dài của loài người từ thế giới tự nhiên, nằm trong vô thức. Bản năng tự nhiên con người thể hiện ở hai mặt chủ yếu: bản năng sinh tồn dẫn đến sự tham lam, tư hữu, đấu tranh hoặc nương tựa vào kẻ khác để bảo vệ mình và bản năng duy trì nòi giống (kích thích sinh dục, tạo nên cảm xúc và nhu cầu gắn bó với người khác giới). - Từ góc độ xã hội, con người là một thực thể xã hội và văn hóa. Con người được xã hội truyền lại nền văn hóa xã hội và đã biến mình thành 95 con người xã hội.
Đó là quá trình giao lưu ngôn ngữ, giao lưu tinh thần giữa người này với người khác để lĩnh hội các "biểu tượng xã hội", các tập tục, lề thói. Chính vì vậy, khi nói bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội, cũng có nghĩa là tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành bản chất con người. Sự thể hiện bản chất của con người không phải trực tiếp, mà thường là gián tiếp, quanh co, phức tạp qua hàng loạt mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, giữa kinh nghiệm và nhận thức khoa học, giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, giữa bản năng sinh vật và hoạt động có ý thức, giữa di truyền tự nhiên và văn hoá xã hội, giữa yếu tố thực tại và yếu tố tâm linh hình thành trong con người. Vì vậy, trong xã hội, con người chịu trách nhiệm với hành vi xã hội của mình.
Từ hai cách hiểu như trên về bản chất con người, có thể nhận định rằng: Khi là một sinh vật, con người mang bản năng sinh tồn và chịu sự chi phối của quy luật cạnh tranh sinh tồn. Khi là con người xã hội, con người chịu sự chi phối của quy luật cộng đồng. Do vậy, con người luôn sống trong sự pha trộn của bản năng sinh tồn và quy luật cộng đồng để phát ra hành vi. Trong cuộc sống thường ngày, con người luôn thực hiện hai dạng hành vi của chính mình là hành vi bản năng và hành vi ý thức.
Hành vi bản năng (hành vi vô thức) là hành vi sơ đẳng, hành vi bẩm sinh do bản năng sinh tồn của con người chi phối. Hành vi ý thức (hành vi trí tuệ) là những hành vi có suy nghĩ, có mục đích, do ý thức của con người chi phối. Về vấn đề này, trước đây, Aristote (384-322 TCN) đã quan niệm con người là "sinh vật xã hội" để diễn tả hai khía cạnh sinh học và xã hội của con người. Trong cuộc sống tự nhiên, con người có các hoạt động sinh học để tồn tại và duy trì nòi giống.
Trong hoạt động xã hội con người là động vật bậc cao có suy nghĩ, có tư duy và tình cảm. Marx, bản chất con người là "tổng hoà các quan hệ xã hội", là chủ thể của các hoạt động xã hội đồng thời phản ánh, hấp thụ các quan hệ xã hội. Trong luận đề 6 về Feuerbach, Marx viết: "Bản chất con người không phải là một trừu tượng bên trong mỗi cá nhân. Trong tính hiện thực của nó, con 96 người là tổng hoà các quan hệ xã hội".
Korte nói "Mỗi người là một xã hội nhỏ, mỗi xã hội là một người tổng quát"1. Vì vậy, nói đến con người là nói đến nhân cách mà mỗi cá nhân đã tạo dựng được cho mình trong quá trình xã hội hóa. Xã hội hóa đã hoàn thiện nhân cách con người, biến các cá thể (cá thể sinh học) thành cá nhân (thực thể xã hội) và thành nhân cách (con người xã hội). Khái niệm xã hội hóa Hiện nay, khái niệm xã hội hóa được hiểu với nhiều nội dung khác nhau.
Xã hội hóa dùng để chỉ sự tăng cường chú ý, quan tâm của xã hội về vật chất và tinh thần đến những vấn đề, sự kiện cụ thể nào đó của xã hội mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội có trách nhiệm quan tâm. Những vấn đề cụ thể đó có ý nghĩa đối với xã hội nên từ chỗ chỉ một nhóm hay một bộ phận của xã hội quan tâm sau đó là toàn xã hội quan tâm. Thông thường đây là những hoạt động có tính phổ quát rộng, rất nhiều người có nhu cầu, có điều kiện để nhân rộng và nhiều người đều có thể tham gia thực hiện được. Xã hội hóa dưới góc độ này chính là sự kết hợp mang tính chất tự nguyện có ý thức chủ quan của nhiều cá nhân hay nhóm xã hội.
Chẳng hạn chúng ta thường nói: xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa y tế, xã hội hóa thể thao, xã hội hóa các công tác xã hội. Theo một nghĩa khác, xã hội hóa chỉ sự liên kết của nhiều hành động, hoạt động cá biệt, riêng biệt thành hành động xã hội chung. Đây là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu sản xuất xã hội và lý giải cho sự biến đổi của các phương thức sản xuất xã hội khác nhau. Về đại thể xã hội hóa là sự liên kết của những hành động, hoạt động riêng biệt thành quá trình mang tính xã hội.
Sự liên kết này mang tính khách quan, tự nhiên tạo nên sự tùy thuộc lẫn nhau của các cá nhân khi tham gia hành động hay tương tác xã hội. Ví dụ, những người cùng làm việc trong một dây chuyền sản xuất bị trói chặt vào nhau thành một "con người tập thể" theo cách diễn đạt của Marx. Một cách hiểu khác, xã hội hóa là việc phổ cập, nhân rộng các giá trị vật chất và tinh thần từ một cá nhân hay một nhóm ra xã hội.21 97 người sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xúc tiến quảng cáo sản phẩm của mình ra xã hội để nhiều người biết, mọi người biết hàng hóa của họ và hướng tới. Xã hội hóa theo nghĩa này có thể do các cá nhân chủ động thực hiện hoặc do cơ chế tự động (lây lan) của xã hội.
Bởi vậy, trong quá trình xã hội hóa cần đặc biệt coi trọng dư luận xã hội. Người Việt Nam có câu "hữu xạ tự nhiên hương". "Xạ" ở đây có thể hiểu theo cả hai nghĩa tốt hoặc xấu. Tuy nhiên, xã hội học chỉ quan tâm nghiên cứu đến quá trình xã hội hóa cá nhân.
Con người khi mới sinh ra không mang bản chất xã hội mà chỉ mang bản chất tự nhiên vốn có của thế giới động vật. Trong quá trình học hỏi, tích lũy những kinh nghiệm xã hội, con người có sự phát triển vượt bậc. Môi trường xã hội đã tạo ra sự thay đổi, biến con người từ động vật bậc cao trở thành con người xã hội sống đa dạng và phong phú. Nói cách khác khái niệm xã hội hoá dùng để chỉ quá trình chuyển biến từ chỉnh thể sinh vật với đầy đủ các tiền đề tự nhiên đến một chỉnh thể đại diện của xã hội loài người.
Theo nhà xã hội học Mỹ, Neil Smelser, "Xã hội hóa là quá trình mà cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình"1. Với quan niệm này vai trò của cá nhân trong quá trình xã hội hóa chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực. Trong lịch sử nhân loại có những nhân cách lớn tạo ra hàng loạt những chuẩn mực, giá trị. được thừa nhận và họ trở thành những người nổi tiếng thế giới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, trong định nghĩa mà Neil Smelser đưa ra vai trò cá nhân chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực mà chưa đề cập đến khả năng sáng tạo của cá nhân để xã hội học theo. Còn theo Fichter, "Xã hội hóa là một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là sự chấp nhận một khuôn mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó"2. Fichter đã quan tâm đến vai trò của cá nhân trong quá trình xã hội hóa. Ông nhấn mạnh tác động của cá nhân đến quá trình xã hội hóa.
Tuy nhiên, định nghĩa chưa 1 Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008) Xã hội học, Nxb Thế giới.258 2 Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008) Xã hội học, Nxb Thế giới.258 98 nói rõ được vấn đề cá nhân học hỏi, tích lũy kinh nghiệm và lĩnh hội những kiến thức xã hội. Nhà xã hội học người Nga G. Andreeva có định nghĩa "Xã hội hóa là quá trình hai mặt: Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội. Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội"1.
Theo định nghĩa trên, xã hội hoá là quá trình hai mặt. Mặt thứ nhất, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào xã hội. Ngược lại, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động các mối quan hệ thông qua việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các quan hệ xã hội.