Giáo trình Thương mại Quốc tế - 113- CHƯƠNG 4 THUẾ QUAN – MỘT CÔNG CỤ HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Chương này giới thiệu về thuế quan (Tariff), một công cụ được sử dụng để hạn chế thương mại quốc tế và phân tích tác động của thuế quan tới nước có liên quan. Thực tế cho thấy các chính phủ các quốc gia thực sự không tôn trọng tự do thương mại, mặc dù buôn bán tự do là hình thức buôn bán hiệu quả và hợp lý nhất đối với người tiêu dùng. Các nhà hoạch định chính sách đã tạo ra những công cụ khác nhau để hạn chế sự tự do di chuyển hàng hóa và dịch vụ. Một công cụ quan trọng nhất và cổ điển nhất để hạn chế thương mại tự do và bảo hộ đối với sản xuất trong nước là thuế quan.
Thuế quan làm tăng giá hàng nhập khẩu và từ đó làm cho giá hàng nhập khẩu kém cạnh tranh hơn. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ QUAN 4. Khái niệm Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuế quan. Theo Từ điển Chính sách thương mại quốc tế, thuế quan là nghĩa vụ nộp hoặc thuế đánh vào hàng hóa tại biên giới khi hàng hóa đi từ một lãnh thổ hải quan (thông thường là một nước) sang lãnh thổ hải quan khác.
Hoặc theo Dominick Salvatore: “Thuế quan là một loại thuế đánh vào hàng hóa khi nó được vận chuyển xuyên qua biên giới quốc gia”. Thuế quan là một biện pháp hay công cụ quan trọng nhất và mang tính cổ điển nhất để thực hiện chính sách thương mại và bảo hộ thị trường nội địa. Phân loại Thuế quan có thể được phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau. Theo mục đích đánh thuế, thuế quan được chia thành hai loại: thuế quan tài chính và thuế quan bảo hộ.
Gọi là thuế quan tài chính, bởi vì thông qua việc đánh thuế nhằm đem lại nguồn thu cho ngân sách. Gọi là thuế quan bảo hộ, bởi vì thông qua việc đánh thuế nhằm bảo hộ đối với nền sản xuất trong nước. Theo đối tượng đánh thuế, thuế quan được chia thành ba loại: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế quá cảnh. Thuế xuất khẩu là thuế đánh vào hàng hóa hoặc nguyên vật liệu ở thời điểm chúng rời lãnh thổ hải quan quốc gia.
Những lý do để đánh thuế xuất khẩu là nhằm tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước, đẩy mạnh hơn nữa việc Giáo trình Thương mại Quốc tế - 114- gia công hàng hóa trong nước, hình thành một chính sách đảm bảo rằng các nguyên vật liệu khan hiếm và cần thiết cho nền sản xuất trong nước phải được dự trữ ở mức tối đa cho công nghiệp nội địa. Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào sản phẩm nhập khẩu tại biên giới. Thuế quá cảnh là thuế đánh vào hàng hóa khi đi qua lãnh thổ của một nước trung gian. Theo phương pháp tính thuế, thuế quan được chia thành ba loại: thuế quan tính theo số lượng (còn gọi là thuế đặc định - specific tariff), thuế quan tính theo giá trị (Ad valorem tariff) và thuế quan hỗn hợp.
Đại đa số các quốc gia sử dụng phương pháp thuế quan tính theo giá trị. Do nhiều nước ít đánh thuế vào hàng hóa xuất khẩu, hoặc nếu đánh thuế thì cũng đánh rất ít vào các sản phẩm xuất khẩu nên khi nói đến thuế quan là đồng nghĩa với thuế nhập khẩu. THUẾ NHẬP KHẨU 4. Thuế đặc định Thuế được thể hiện bằng một khoản tiền cụ thể đánh vào một hàng hóa nhập khẩu cụ thể.
Thuế đặc định là một loại thuế nhập khẩu quy định: một lượng tiền thuế cố định tính trên một đơn vị hàng hóa nhập khẩu. Ví dụ, thuế đặc định này có thể là 20 đôla trên một tấn hàng hóa nhập khẩu. Tổng tiền bị đánh thuế đối với hàng hóa nhập khẩu tương ứng với số lượng đơn vị hàng hóa đưa vào quốc gia nhập khẩu và không tính theo giá cả hoặc giá trị của hàng nhập khẩu. Cơ quan thuế có thể dễ dàng thu thuế đặc định vì họ chỉ cần biết số lượng hàng hóa nhập khẩu vào quốc gia, chứ không phải là một lượng tiền.
Tuy nhiên, thuế đặc định cũng có một trở ngại khá lớn để bảo hộ các nhà sản xuất trong nước, đó là vì giá trị bảo hộ tỷ lệ nghịch với giá của hàng nhập khẩu. Nếu giá nhập khẩu của nhà sản xuất nước ngoài là 5 đôla và thuế là 1 đôla trên một đơn vị, mức thuế này tương đương với 20% giá cả hàng hóa. Tuy nhiên, nếu lạm phát xảy ra và giá nhập khẩu tăng lên 10 đôla, thuế nhập khẩu lúc này chỉ tương ứng là 10% của giá trị hàng nhập khẩu. Các nhà sản xuất trong nước có thể cảm thấy rằng loại thuế này không thực hiện được công việc bảo hộ (sau khi lạm phát xảy ra) như nó thường được sử dụng, tuy nhiên lợi ích của người tiêu dùng tăng lên.
Lạm phát xảy ra trong và sau thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai và tái diễn dưới dạng khủng khoảng lớn vào những năm cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980 đã khiến các quốc gia không còn chú trọng đến loại thuế này, song nó vẫn được áp dụng với nhiều mặt hàng. Giáo trình Thương mại Quốc tế - 115- 4. Thuế quan tính theo giá trị Theo Từ điển Chính sách thương mại quốc tế, thuế quan tính theo giá trị “dựa trên phần trăm của giá trị hàng nhập khẩu, gọi là thuế trị giá”, hay nói cách khác là tỷ lệ phần trăm của giá trị hàng hóa nhập khẩu. Thuế quan tính theo giá trị có thể bảo hộ các nhà sản xuất trong nước tốt hơn thuế quan đặc định khi xảy ra lạm phát.
Thuế quan tính theo giá trị được thu theo số phần trăm không đổi của số tiền tương đương với một đơn vị hàng hóa nhập khẩu. Vì vậy, nếu thuế quan tính theo giá trị là 10% thì một mặt hàng với giá chung trên thế giới là 10 đôla sẽ có một khoản thuế đặc định là 1 đôla. Khi lạm phát xảy ra (giả sử lạm phát là 100%), giá hàng hóa sẽ tăng lên 20 đôla và do đó tiền thuế nhập khẩu với mức thuế quan tính theo giá trị không đổi (10%) sẽ là 2 đôla. Nghiên cứu trường hợp: Một số mức thuế của Mỹ Bảng 4.1 cho thấy các mức thuế năm 1994 của những hàng hóa được lựa chọn nhập khẩu vào Mỹ.
Cột có đầu đề là MFN (thuế tối huệ quốc) đề cập đến mức thuế mà Mỹ áp dụng cho các nước được hưởng Quy chế đãi ngộ tối huệ quốc. Cột có đầu đề là Non-MFN (thuế phi tối huệ quốc) đề cập mức thuế cao hơn áp dụng cho các đối tác thương mại còn lại. Năm 1994, các quốc gia phải đương đầu với tỷ lệ thuế cao hơn là Afghanistan, Azerbaijan, Campuchia, Cuba, Lào, Bắc Triều Tiên, Rumani, Việt Nam. Biểu thuế quan của Mỹ có nhiều loại sản phẩm và các mức độ hạn chế đối với các loại hàng hóa khác nhau.1: Các loại thuế nhập khẩu được lựa chọn tại Mỹ năm 1994 Mặt hàng MFN Non-MFN Khoai tây 10% 50% Nho + Nếu nhập vào ngày 1/8 đến 30/9 2,2 cent/kg 3,3 cent/kg + Nếu nhập vào tháng 10 1,8 cent/kg 3,3 cent/kg +Nếu nhập vào các tháng khác 2,9 cent/kg 3,3 cent/kg Nước cam ép lạnh 9,25 cent/lít 18 cent/lít Da động vật Tự do 10% Dây thép tròn không rỉ 9,1% 34% Xe ô tô, đặc biệt là xe chuyên chở khách nếu lớn hơn 3,1% 25% 10 chỗ ngồi Đồ trang sức giả 11% 110% Giáo trình Thương mại Quốc tế - 116- Mặt hàng MFN Non-MFN Chương trình thể thao video 3,9% 35% Nguồn: United States International Trade Commission, Harmonized Tariff Schedule of the United States (1994), USITC Publication 2690 (Washington, DC: US.
Government Printing office, 1993). Thuế ưu đãi Thuế ưu đãi là tỷ lệ thuế được áp dụng cho một mặt hàng nhập khẩu theo những hiệp định thương mại giữa các quốc gia. Một quốc gia được hưởng chế độ ưu đãi sẽ phải trả mức thuế thấp hơn. Tại thời điểm hiện nay, các loại thuế ưu đãi ở EU, ví dụ như Pháp nhập khẩu hàng hóa từ các nước khác như Italia sẽ trả thuế có giá trị là 0.
Cùng một loại hàng thông thường có thể phải trả thuế (dương) nếu hàng hóa đó đến từ các nước không thuộc EU. ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CỦA THUẾ QUAN Một trong những vấn đề quan trọng mà chúng ta cần tìm hiểu khi nghiên cứu về thuế quan của các nước đó là mức thuế quan trung bình của các nước là bao nhiêu? Vấn đề này nảy sinh vì tất cả các quốc gia đều có các tỷ lệ thuế quan khác nhau đối với hàng hóa nhập khẩu.