Chương 1 đề cập đến những khái niệm cơ bản của môn học và các vấn đề lý thuyết cơ bản của thư viện học như: khái niệm thư viện; chức năng, vai trò của thư viện; sự hình thành và phát triển của thư viện học nước ngoài và Việt Nam. MỤC TIÊU Sau khi học chương này, người học có khả năng: - Trình bày được cơ sở lý luận thư viện học; giải thích được các khái niệm, chức năng, vai trò, sự hình thành và phát triển của thư viện học. - Thực hiện thành thạo kỹ năng đọc, tra cứu tài liệu thư viện. - Yêu thích môn học, có trách nhiệm trong học tập bộ môn.
Khái quát chung về thƣ viện 3 1. Khái niệm thư viện Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ trên thế giới như hiện nay, hoạt động thông tin nói chung và thư viện nói riêng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Thư viện đang thực sự có những bước đột biến, đi vào chiều sâu về cả lượng và chất, các thư viện nói chung đóng vai trò hết sức quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, và xã hội. Theo các nhà nghiên cứu, thư viện là một mặt của đời sống xã hội, từ khi ra đời đến nay đã tồn tại song hành cùng quá trình phát triển của loài người.
Thư viện đã góp phần giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, truyền thống cách mạng, góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, phong phú và đa dạng về đời sống tinh thần của nhân dân. Thư viện học hay còn gọi là khoa học thư viện là một ngành khoa học có lịch sử phát triển lâu dài, có nội dung lý thuyết phong phú. Để tiếp cận và tìm hiểu cơ sở lý luận về thư viện học đòi hỏi chúng ta phải nắm được những khái niệm và một số thuật ngữ cơ bản như: thư viện, tài liệu, cán bộ thư viện, người đọc, thư viện học .(1) Theo "Từ điển tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ học: Thư viện là "nơi lưu giữ sách báo, tài liệu và tổ chức cho bạn đọc sử dụng”. Trong cuốn “Từ điển giải nghĩa Thư viện học Anh Việt” của Hội thư viện Hoa Kỳ "Thư viện là một sưu tập những tài liệu đã được tổ chức để đáp ứng nhu cầu của một nhóm người mà thư viện có bổn phận phục vụ để cho họ có thể sử dụng cơ sở của thư viện, truy dụng thư tịch cũng như trau dồi kiến thức của họ".
Hầu hết các định nghĩa trên đều nhìn nhận và xem xét thư viện dưới góc độ vai trò và chức năng của thư viện mà chưa đề cập đến những thành tố của thư viện. Theo quan điểm tiếp cận hệ thống của nhà thư viện Nga Xtaliarôp, thư viện được xác định là một hệ thống bao gồm bốn yếu tố: tài liệu, người đọc, người cán bộ thư viện và cơ sở vật chất kỹ thuật. Bốn yếu tố này gắn kết chặt chẽ với nhau, trong đó tài liệu là nền tảng vật chất của hệ thống, người đọc là 4 mục tiêu vận hành của hệ thống, cán bộ thư viện có vai trò là người điều khiển, vận hành hệ thống và cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố đảm bảo sự vận hành, là môi trường bên trong của hệ thống. Bao hàm và khái quát đầy đủ nhất bản chất của thư viện, UNESCO (Tổ chức Văn hoá Giáo dục và Khoa học của Liên hợp quốc) đã đưa ra khái niệm sau: "Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác kể cả đồ hoạ, nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí”.
Tóm lại, theo ý nghĩa truyền thống, một thư viện là kho sưu tập sách, báo và tạp chí. Hiểu theo cách khái quát nhất thư viện là nơi tàng trữ và tổ chức sử dụng tài liệu có tính chất tập thể và xã hội. Trong thời đại mới, thư viện vẫn luôn luôn được coi là tòa lâu đài trí tuệ của nhân loại, nơi lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa của loài người, là một bộ phận văn hóa và mang thêm sắc thái mới - là trung tâm thông tin, là một bộ phận cấu thành trong hệ thống thông tin tư liệu của các nước, là nơi thu thập và thỏa mãn nhu cầu thông tin cho quảng đại quần chúng. Tại Khoản 1, Điều 3 Luật Thư viện: Thư viện là thiết chế văn hoá, khoa học, giáo dục có chức năng thu thập, tổ chức, bảo quản và bảo tồn sách vở, tài liệu và phục vụ nhu cầu đọc để góp phần xây dựng một xã hội học tập bền vững.
Các yếu tố cấu thành thư viện 1. Vốn tài liệu thư viện Vốn tài liệu là một yếu tố rất quan trọng cấu thành nên thư viện, đảm bảo cho thư viện có thể hoạt động bình thường. Vốn tài liệu đã được xác định trong Điều 2 Pháp lệnh Thư viện là “những tài liệu được sưu tầm tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định được xử ỉý theo quy tắc, quy trình khoa học của nghiệp vụ thư viện để tổ chức phục vụ người đọc đạt hiệu quả cao và được bảo quản", về bản chất có thể hiểu vốn tài liệu là một bộ sựu tập bao gồm các tài liệu được xử lý, tổ chức theo những quy tắc nhất định, được bảo quản nhằm mục đích sử dụng lâu dài và có hiệu quả. 5 Đốì với nhiều thư viện, vốn tài liệu được coi là tài sản quý là niềm tự hào của thư viện đó.
Theo quan niệm của nhiều người, vốn tài liệu của thư viện còn được coi là di sản văn hoá của nhân loại, vốn tài liệu của một quốc gia không chỉ đơn thuần là di sản văn hoá của dân tộc mà còn là thước đo đánh giá trình độ phát triển của quốc gia đó. Trong vốn tài liệu của thư viện có thể bao gồm nhiều loại hình tài liệu với các dạng vật chất khác nhau. Vì thế khi đề cập đến thư viện, chúng ta không thể bỏ qua khái niệm tài liệu. Khái niệm tài liệu trong các cơ quan thông tin thư viện được xác định là những vật mang tin, trong đó có lưu giữ các thông tin.
Tài liệu là đối tượng được các thư viện quan tâm thu thập, xử lý trong quá trình xử lý thông tin, tư liệu. Trong cuốn "Thư viện học đại cương”, các nhà thư viện học người Nga N.c Cartaxov và Xcvortxov đã xác định thuật ngữ tài liệu trong hệ thống các khái niệm thư viện học chủ yếu là các xuất bản phẩm. Trên thực tế dưới thời cổ đại, tài liệu được tồn tại dưới hình thức các vật mang tin thô sơ như các chữ ghi trên đất, đá, lá cây, thẻ tre, đá, xương thú, lụa giấy gỗ, kim loại. Đến thế kỷ XV, sau khi công nghệ in ra đời, các xuất bản phẩm in trên giấy như: sách, báo tạp chí.
đã trở thành dạng tài liệu chiếm ưu thế. Sau này với sự phát triển của công nghệ khoa học hiện đại, tài liệu đã xuất hiện dưới nhiều dạng vật mang tin mối như; vi phim, vi phiếu, băng từ, đĩa từ, đĩa CD-ROM, DVD. Vì thế cách định nghĩa đầy đủ nhất là cách định nghĩa trong Pháp lệnh Thư viện của Việt Nam: “tài liệu là một dạng vật chất đã ghi nhận thông tin ở dạng thành văn, âm thanh, hình ảnh nhằm mục đích bảo quản và sử dụng”. Cán bộ thư viện Cán bộ thư viện là các nhân viên đảm nhiệm các công việc chuyên môn trong các thư viện.
Họ là những người được đào tạo để nắm vững nghiệp vụ thư viện và nắm giữ những cương vị nhất định trong thư viện, N.c Crupxcaia 20 đã ví họ là linh hồn của thư viện. Người cán bộ thư viện giữ vai trò quan trọng trong công tác thư viện. Đối với tài liệu và các nguồn thông tin, người cán bộ thư viện phải nắm bắt, tiến hành việc lựa chọn, thu thập, xử lý, sắp xếp, bảo quản, khai thác và tuyên truyền giới thiệu chúng với người đọc. Đối với người đọc và ngưòi dùng tin, người cán bộ không chỉ là ngưòi đơn thuần giữ sách và tài liệu, thực hiện việc lấy tài liệu 6 phục vụ nhu cầu đọc và nhu cầu thông tin của họ mà người cán bộ thư viện còn phải tiến hành việc hướng dẫn đọc, nghiên cứu về người đọc và tạo lập nên bộ máy tra cứu và các dịch vụ tối ưu để thoả mãn các nhu cầu đó.
Đối với các cơ sở vật chất kỹ thuật trong thư viện, người cán bộ thư viện cần phải được trang bị kiến thức, nắm được cách vận hành, sử dụng các phương tiện kỹ thuật và duy trì chúng ở tình trạng tốt nhất. Dưới thời cổ đại và trung đại, ngưòi phụ trách thư viện thường là những nhà khoa học và những nhà văn hoá lớn. Ở Việt Nam, dưới thời phong kiến, chỉ những người đỗ đạt cao mới được bổ nhiệm làm bí thư các phụ trách thư viện ở Quốc Tử Giám. Ngày nay các cán bộ thư viện không chỉ đơn thuần là ngưòi lưu giữ, bảo quản tài liệu mà còn là người làm chủ các nguồn tin, biết cách khai thác, tra cứu, xử lý bao gói thông tin để thoả mãn các nhu cầu đọc và nhu cầu thông tin của xã hội nói chung và người đọc, người dùng tin nói riêng.
Theo quy định của Pháp lệnh Thư viện của Việt Nam, người làm công tác thư viện có quyền học tập nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, tham gia nghiên cứu khoa học, sinh hoạt về chuyên môn, được hưỏng chế độ ưu đãi về nghề nghiệp cũng như các chế độ chính sách khác của Nhà nước. Tuy nhiên, họ có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật, các quy định về chuyên môn và quy chế của thư viện. Người đọc của thư viện Vể mặt thuật ngữ, người đọc còn được gọi là bạn đọc hay độc giả. Trong những năm gần đây, khái niệm người đọc đã được mở rộng, và được sử dụng cùng vói thuật ngữ người dùng tin, người sử dụng thư viện.
Người đọc là đối tượng phục vụ của thư viện. Họ là những người sử dụng thư viện và các nguồn lực có trong thư viện với các mục đích khác nhau. Người đọc có thể bao gồm: các cá nhân hoặc một nhóm ngưòi của tập thể sử dụng thư viện trên cơ sở đã được ghi nhận trong hồ sơ đăng ký người đọc của thư viện.