chương 1 giới thiệu những kiến thức chung về tham vấn: Đối tượng, mục đích của tham vấn, một số khái niệm liên quan, các hình thức tham vấn. Mục tiêu: - Kiến thức: Trình bày được đối tượng nghiên cứu của tham vấn; mục đích của tham vấn; trình bày được các khái niệm: Tư vấn, cố vấn, trị liệu tâm lý; Phân tích được các hình thức tham vấn: tham vấn cá nhân, nhóm, gia đình. - Kỹ năng: Thực hành kỹ năng nhận diện và vận dụng các hình thức tham vấn phù hợp với vấn đề của thân chủ. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Nhận thức được những khó khăn thường gặp phải đối với nhà tham vấn trong quá trình làm việc với thân chủ; có thái độ đúng mực, chuyên nghiệp của nhà tham vấn; tích cực, chủ động, nghiêm túc trong học tập.
Nội dung chính: 1. Đối tượng nghiên cứu của tham vấn 1. Khái niệm Đối tượng tham vấn (gọi là khách hàng hoặc thân chủ) là những người không phân biệt quốc tịch, giới tính, độ tuổi, chủng tộc, đẳng cấp kinh tế xã hội, khuynh hướng giới tính hay thể trạng. Thân chủ là một người/một nhóm người bình thường, người có vấn đề mất cân bằng hoặc người có rối loạn tâm lí.
Trong tham vấn chuyên nghiệp, một cá nhân trở thành thân chủ khi: - Biết là mình có vấn đề và nhận biết được vấn đề của mình. - Biết rằng mình không tự giải quyết được vấn đề đó. 9 - Chấp nhận nói ra vấn đề của mình một cách khách quan nhất để được sự giúp đỡ. - Sẵn sàng đón nhận cách nhìn nhận mới và thay đổi hành vi, cách sống mới (nếu cần).
- Chấp nhận tốn kém thời gian, công sức hay tiền bạc cho việc giải quyết vấn đề của mình. Thực tế ở Việt Nam, các nhân viên xã hội, nhà tâm lý học làm việc với các thân chủ, trong số đó, không phải thân chủ nào cũng ý thức được vấn đề của mình và tự nguyện tìm kiếm sự trợ giúp. Ở cộng đồng, các nhân viên xã hội nghe ngóng, tìm kiếm trẻ em “có vấn đề” để giúp đỡ. Ở trường học, nhiều học sinh buộc phải gặp nhà tham vấn do vi phạm kỷ luật.
Các cuộc tham vấn đôi khi diễn ra trong không khí “bị ép buộc phải gặp nhà tham vấn”. Carl Rogers (1951), cho rằng, thân chủ là người tự chịu trách nhiệm, dù tìm đến một ai đó để nhờ giúp đỡ, song sự quyết định vẫn thuộc về chính thân chủ. Thân chủ là chuyên gia giỏi nhất về vấn đề của mình nên người tham vấn thường nhìn nhận thân chủ là người có giá trị; độc đáo; có hiểu biết và luôn muốn thay đổi với sự hỗ trợ của người tham vấn. Thông thường khi một người có vấn đề không tự giải quyết được mới cần đến sự trợ giúp của người khác.
Trong tham vấn, thân chủ được nhìn nhận là một người chủ động, tích cực, làm chủ bản thân, tự quyết định vấn đề của bản thân với sự giúp đỡ của người tham vấn. Thân chủ là người duy nhất biết rõ về mình và vấn đề của mình, nhưng luôn tự hỏi phải làm gì bây giờ, đôi khi thân chủ rơi vào tình trạng hoang mang không ý thức được tâm trạng và hành vi của mình. Hoặc thân chủ biết phải làm gì nhưng dễ nản chí vì thấy nhiều chướng ngại phải vượt qua, hoặc thiếu tự tin về mình. Vì vậy họ cần đến sự giúp đỡ chuyên nghiệp để tự tin giải quyết vấn đề của mình.
Sự tiến bộ của thân chủ luôn bắt đầu và kết thúc từ chính sự nỗ lực của thân chủ nên quá trình tham vấn phải đặt sự tin tưởng hoàn toàn vào thân chủ, chấp nhận toàn bộ con người thân chủ để thân chủ tìm ra đường đi và quyết định vấn đề của chính mình. 10 Trong các ngành trợ giúp, ví dụ như ngành Công tác xã hội (đặc biệt là ở Việt Nam), đối tượng hưởng lợi là những người dễ bị tổn thương tâm lí, họ không tự vượt qua được các vấn đề của họ, do nghèo khó, bệnh tật… Những nhóm người thuộc diện “bảo trợ xã hội”, họ được hưởng miễn phí dịch vụ trợ giúp của xã hội. Vì vậy, khái niệm “thân chủ” (người chủ) hay “thân chủ” (thượng đế) đối với nhóm người xin trợ giúp này đôi khi không thật sự phù hợp, vì dịch vụ trợ giúp cho họ hiện nay là miễn phí. Đôi khi người ta sử dụng khái niệm “Người xin trợ giúp”, “Người nhận công tác xã hội”, hoặc gọi là “Đối tượng”, trong khi với các bác sĩ tâm thần, khái niệm “bệnh nhân” lại luôn được sử dụng.
Trong tài liệu này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “Thân chủ” hoặc đối tượng để chỉ những người được trợ giúp tâm lí. Vấn đề của thân chủ Vấn đề của thân chủ được hiểu là vấn đề nan giải của người có nhu cầu cần sự giúp đỡ của người làm tham vấn. Trong tham vấn, thuật ngữ “Vấn đề” được hiểu là vấn đề khó khăn tâm lí. Với người có vấn đề, nếu họ không tự giải quyết được, họ sẽ mất cân bằng về tâm lí, thậm chí kéo theo những rối loạn về hoạt động sinh lý và ứng xử rối loạn về hành vi xã hội.
Với những rối loạn tâm lí phức tạp, sự trợ giúp cần mang tính nghề nghiệp với sự giúp đỡ của người tham vấn hoặc nhà tâm lí học lâm sàng chuyên nghiệp. Thông thường, các sự kiện gây ra vấn đề làm xáo trộn cuộc sống cá nhân có thể là: Kinh tế bị sa sút đột ngột hoặc kéo dài vượt ngưỡng chịu đựng tâm lý và sức khỏe của cá nhân; những thất bại trong nghề nghiệp, học tập, sự bất lực trong tình cảm và sự kém thích nghi; các áp lực xã hội liên quan đến môi trường sống, lối sống, văn hóa, tôn giáo; hay những cạnh tranh, chèn ép, kì thị. mà có thể cá nhân là nạn nhân, người chứng kiến hoặc cảm nhận mình là nạn nhân. Về phía cá nhân, những người có tính thụ động, những người không có tính chịu trách nhiệm, người thiếu nghị lực và kiến nghị trong hành động, hay dựa dẫm vào các quyết định của người khác hay những người làm việc ngẫu hứng, hành động thường không theo mục tiêu; người hay đổ lỗi, không cân bằng 11 trong đời sống lí trí và tình cảm, người có các suy nghĩ, niềm tin tiêu cực về cuộc sống và về bản thân… sẽ dễ có vấn đề hơn những người khác.
Mặt khác, quan niệm có vấn đề hay không là tùy thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi cá nhân. Có những sự việc, hiện tượng đối với ai đó rất quan trọng, gây nên một sự bất ổn ở họ, vì vậy họ cần đến sự giúp đỡ của người tham vấn. Nhưng vẫn sự việc đó, đối với người khác “nó” không gây ra vấn đề gì và không làm họ bận tâm. Vì thế họ không cần đến một sự trợ giúp bên ngoài.
Xét từ góc độ triệu chứng và đánh giá xã hội, có thể kể ra một số biểu hiện của vấn đề cần sự trợ giúp về góc độ tâm lý, đó là: - Cá nhân luôn không hài lòng và thấy khó chịu vì mối quan hệ nào đó. - Cá nhân thấy buồn chán, lo âu, căng thẳng đau khổ, sợ hãi, những điều này lặp đi, lặp lại và ảnh hưởng đến hoạt động của thân chủ. - Cá nhân xuất hiện cá tính hiếm thấy và không có trong hành động tiền lệ. - Cá nhân nói nhiều trong một thời điểm và luôn cảm thấy không hài lòng.
- Cá nhân nhận thức phi lí và thể hiện ở hành động mà người khác cho là không bình thường. - Cá nhân thường có hành động gây bất bình với người xung quanh. - Cá nhân không thích nghi hoặc khó thích nghi, luôn hành động ảnh hưởng đến mục tiêu của mình và những người xung quanh. - Cá nhân luôn cảm thấy đau khổ, dằn vặt hay thất vọng với điều kiện, hoàn cảnh hiện tại của bản thân Khi cá nhân ý thức được vấn đề của mình và với sự giúp đỡ chuyên môn, họ sẽ vượt qua được những khó khăn của bản thân, đương đầu được với thực tế gây ra rối nhiễu tâm lí.
Trong thực tế, nhiều khi cá nhân không nhận ra được là mình đang có vấn đề do thiếu hiểu biết, do không thừa nhận sự “không bình thường” nơi mình, 12 hoặc do không muốn người ngoài biết những rắc rối của mình. Việc lưu giữ những cảm xúc căng thẳng sẽ làm xuất hiện những hành vi mang tính phòng vệ (hành vi tự bảo vệ), hoặc gây ra những hành vi chống đối mang tính huỷ hoại. Trong trường hợp nặng, cơ thể không còn khả năng chống đỡ sẽ bị rối loạn cả về thực thể và tâm lí. Phần trình bày một số biểu hiện về hành vi phòng vệ của cá nhân khi có những vấn đề căng thẳng trên đây chỉ nhằm mục đích giúp các nhân viên công tác xã hội tăng cường hiểu biết về những mâu thuẫn giữa cái ý thức và vô thức trong biểu hiện tâm lý của con người, chúng đặc biệt xuất hiện khi có vấn đề, mà không nhằm tới việc hướng dẫn thực hành về những cơ chế phòng vệ này.
Mục đích của tham vấn 2. Giải quyết vấn đề. - Nhà tham vấn phải biết: + Lắng nghe thân chủ, để thân chủ làm chủ quá trình nói chuyện trong các cuộc gặp gỡ tham vấn. + Sử dụng các kỹ năng giao tiếp cụ thể để khai thác các cảm giác, trải nghiệm, ý nghĩ và quan điểm của thân chủ, trên cơ sở đó tập hợp các thông tin giúp thân chủ hiểu rõ về tình huống của họ.
+ Thể hiện sự thông cảm và thấu hiểu với thân chủ, làm việc với họ để xác định các bước thân chủ có thể thực hiện để họ có một cuộc sống lành mạnh, có ích hơn. + Giúp thân chủ hiểu được các sự kiện trong quá khứ, điều này có thể góp phần vào các vấn đề hiện tại, giúp thân chủ suy nghĩ và xử sự theo cách khác nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của các sự kiện trong quá khứ. + Giúp thân chủ phân loại các vấn đề trong cuộc sống của họ để hiểu sâu hơn về bản thân mình. 13 + Giúp thân chủ bày tỏ các cảm giác của mình và nhìn thấu được các cảm giác này tác động đến cách suy nghĩ, xử sự và ra các quyết định.
Chẳng hạn, nhiều trẻ có vấn đề về hành vi, thường dùng các hành vi tiêu cực như là một cách để đối mặt với các cảm giác giận dữ bị kìm nén; nhà tham vấn có thể giúp những trẻ này sử dụng các cách khác, ít tiêu cực hơn để giải toả các cảm giác đó.