Chuong 6 QUAN LY KENH VA THUC DAY CAC THANH VIEN KENH HOAT DONG 6. BAN CHAT CUA QUAN LY KENH Sau khi DN đã lựa chọn loại cấu trúc kênh và các thành viên của kênh, hoàn thiện tổ chức các quan hệ trong kênh, một kênh phân phối hoạt động như một hệ thống tổng thể hình thành. Hệ thống kênh có thể được xem như là một hệ thống xã hội trong đó mỗi thành viên phụ thuộc vào những người khác, mỗi thành viên giữ một vai trò nhất định và họ có những kỳ vọng nhất định vào người khác. DN phải thực hiện chức năng quản lý điều hành hoạt động của các hệ thống kênh phân phối của mình.
Khái niệm quản lý kênh Hiện tại, nhiêu doanh nghiệp khi tiêu thụ sản phẩm chỉ tập trung vào các quan hệ mua bán trực tiếp và quản lý hoạt động phân phối hàng ngày. Quản lý kênh phân phối cần được hiểu theo nghĩa đầy đủ hơn. Theo chúng tôi, guản lý kênh được hiểu là toàn bộ các công việc quản lý điêu hành hoạt động của hệ thống kênh nhằm đảm bảo sự hợp tác giữa các thành viên kênh đã được lựa chọn qua đó thực hiện các mục tiêu phân phối của doanh nghiệp. Quản lý kênh nhằm đảm bảo sự hợp tác của các thành viên trong kênh nhưng không phải thụ động mà là chủ 236 động.
DN cần sử dụng những biện pháp tích cực, có kế hoạch để đảm bảo sự hợp tác. Quản lý kênh cũng phải nhằm vào những mục tiêu phân phối định trước. Những vấn đẻ nhấn mạnh trong định nghĩa quản lý kênh là: - Thứ nhất, quản lý kênh là quản lý các kênh đã có, đang hoại động. Có nghĩa là cấu trúc của kênh đã được thiết kế và tất cả các thành viên trong kênh đã được lựa chọn.
Các quyết định tổ chức kênh được xem xét tách biệt với các quyết định quản lý kênh. Trong thực tế, sự phân biệt này đôi khi có thể không rõ ràng vì một quyết định quản lý kênh có thể nhanh chóng chuyển thành quyết định tổ chức kênh. Ví dụ, quyết định giá khuyến khích để đảm bảo sự hợp tác giữa các thành viên trong kênh (quyết định quản lý kênh) mất tác dụng, có thể dẫn tới khả năng thay đổi các loại thành viên trong kênh (quyết định tổ chức kênh). Có thể phân biệt hai loại quyết định này bằng việc coi các quyết định tổ chức kênh là nhằm xác lập ra hệ thống kênh, còn các quyết định quản lý kênh là đề cập tới việc điều hành hệ thống đã được thiết lập.
- Thứ hai là đẩm bảo sự hợp tác của các thành viên trong kênh có nghĩa là các thành viên trong kênh không hợp tác một cách tự nhiên mà cần có các hoạt động quản lý để đảm bảo sự hợp tác chủ động của họ. - Thứ ba là quản lý kênh phải nhằm vào mục tiêu phân phối cụ thể. Mục tiêu phân phối là những tuyên bố về hoạt động phân phối với tư cách là một bộ phận của marketing-mix sẽ đóng góp những gì vào việc đạt được toàn bộ mục tiêu marketing của công ty. Quản lý kênh phải đảm bảo thực hiện các mục tiêu phân phối của nhà sản xuất.
Những nội dung và đặc điểm cơ bản của quản lý kênh phân phối - Pham vi quản lý kênh phân phối là bao trùm toàn bộ hoạt động của kênh, liên quan đến tất cả mọi thành viên tham gia vào kênh phân phối từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Kênh phân phối phải được quan niệm là một hệ thống hoàn chỉnh từ sản xuất đến tiêu dùng. Đối tượng quản lý là cả hệ thống thống nhất chứ không phải chỉ từng giai đoạn trong quá trình lưu thông hành hoá. - Quản lộ kênh phân phối bao gôm quản lý cả 10 dòng chảy trong kênh.
Một hệ thống kênh hoạt động có hiệu quả hay không phụ thuộc vào các dòng chảy của nó có được điều hành thông suốt không. Tất cả các dòng chảy như đàm phán, chuyển quyền sở hữu, thông tin, tiền tệ, xúc tiến. phải được quản lý có hiệu quả để đạt các mục tiêu phân phối của hệ thống kênh. Trong thực tế, nhiều người thường đồng nghĩa quản lý kênh với quản lý phân phối vật chất và chỉ quan tâm đến tổ chức đồng vận động vật chất.
Điều này hoàn toàn sai. Thực chất quản lý kênh trong chiến lược phân phối có nội dung cơ bản và toàn điện, bao trùm toàn bộ các mặt hoạt động của hệ thống kênh. Quản lý kênh liên quan đến toàn bộ quá trình tổ chức vận hành các hoạt động bên ngoài DN nhầm đạt các mục tiêu phân phối. Quản lý phân phối vật chất chỉ là một bộ phận của quản lý kênh, đó là quản lý dòng vận động của sản phẩm về mặt vật chất mà thôi.
Quản lý phân phốt vật chất tập trung vào đảm bảo cho sản phẩm sắn sàng ở thời gian và địa điểm mà khách hàng mong muốn. Tất cả các dòng chảy khác trong kênh phải được quản lý tốt trước khi các hoạt động phân phối vật chất được tiến hành. Các dòng chảy trong kênh phân phối vận động rất phức tạp làm cho việc quản lý chúng rất khó khăn và phức tạp. 238 - Quản lý kênh là quản lý các hoạt động, các quan hệ ở bên ngoài DN chứ không phải trong nội bộ nên đòi hỏi người quản lý kênh phải sử dụng những biện pháp hoàn toàn khác với những biện pháp quản lý các biến số marketing khác.
Các thành viên trong kênh phân nhiều là các DN độc lập, họ có chiến lược kinh doanh riêng, có mục tiêu riêng, sức mạnh riêng. muốn quản lý họ phải thông qua đàm phán, thương lượng và sử dụng sức mạnh hợp lý. DN phải có các biện pháp giải quyết tốt các quan hệ hành vi trong kênh. Những quan hệ phức tạp giữa các thành viên trong kênh cần được giải quyết hợp lý.
Mỗi hệ thống kênh phân phối là một hệ thống xã hội bao gồm các DN phụ thuộc lẫn nhau với mục tiêu chung. Vì vậy, mỗi hệ thống kênh có thể được xem như là một đơn vị cạnh tranh độc lập trên thị trường. - Mọi vị trí thành viên trong kênh đều có trách nhiệm và khả năng quản lý kênh ở những mức độ khác nhau. Tất nhiên, quản lý kênh phân phối của những DN có vai trò lãnh đạo kênh khác với quản lý kênh của những DN vai trò phụ thuộc.
Thành viên kênh nắm giữ vai trò lãnh đạo kênh tất nhiên phải phát triển một chiến lược quản lý kênh toàn diện để chỉ phối, dẫn đất các thành viên khác trong kênh hoạt động theo mục tiêu mong muốn của họ. Họ có những cơ sở sức mạnh để làm được điều đó. Ngược lại các thành viên ở vị trí phụ thuộc thường phải khôn khéo điều chỉnh hoạt động của họ cho thích ứng với chiến lược của người lãnh đạo kênh. Trong thực tế, vai trò lãnh đạo kênh có thể thuộc về người sản xuất, người bán buôn và người bán lẻ tuỳ thuộc vào khả năng sức mạnh vốn có của họ và những quan hệ đã được thiết lập.
Tuy nhiên, tất cả các thành viên trong kênh đều phải có trách nhiệm quản lý các quan hệ phân phối của mình ở những 239 mức độ khác nhau. - Các vị trí thành viên kênh khác nhau có mục tiêu, định hướng quản lý kênh khác nhau. Nhà sản xuất quan tâm đến quản lý kênh từ đầu nguồn phát luồng hàng cho tới người tiêu dùng cuối cùng. Các nhà TGTM, bán buôn và bán lẻ quan tâm đến quản lý kênh về cả hai phía, các nhà cung cấp và các khách hàng của họ.
Tất nhiên, ở mỗi vị trí thành viên kênh sẽ có chiến lược quản lý khác nhau. - Phân biệt quản lý kênh hàng ngày với quản tý kênh về mặt chiến lược. Các kênh phân phối hàng hóa dịch vụ trên thị trường bao gồm một chuỗi các hoạt động thường xuyên, lặp đi lặp lại nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Vì vậy, quản lý kênh phân phối trước hết là quản lý các hoạt động tiêu thụ thường xuyên hàng ngày.
Hoạt động thường xuyên của kênh phân phối thể hiện ở quá trình tiếp nhận, sử lý đơn đặt hàng, giao nhận, thanh toán, kiểm tra giá cả. Người quản lý kênh của DN phải quản lý sự vận động hàng ngày của tất cả các dòng chảy trong kênh. Tất nhiên, quản lý hàng ngày với quản lý dài hạn có quan hệ biện chứng với nhau. Quản lý dai hạn tập trung vào những biện pháp có tính chiến lược, trong khi quản lý hàng ngày giải quyết những công việc phân phối cụ thể.
Quản lý phân phối hàng ngày tất nhiên chịu sự chỉ phối của quản lý đài hạn. Quản lý kênh phân phối về mặt chiến lược liên quan đến xác lập các kế hoạch và chương trình hoạt động đảm bảo sự hợp tác dài hạn của các thành viên trong kênh nhằm đạt các mục tiêu phân phối của nhà sản xuất. Quan điểm quản lý kênh về mặt chiến lược giúp người quản lý kênh dự báo được những biến động của môi trường marketing ảnh hưởng đến kênh phân phối, từ đó xây dựng các chiến lược quan lý thích ứng với hoàn cảnh thị trường mới, tránh được những rủi do. Theo quan điểm này, 240 người quản lý kênh phải giải quyết được các vấn đề chiến lược cơ bản: (1) Nên phát triển quan hệ chặt chế như thế nào với các thành viên kênh? (2) Nên khuyến khích các thành viên kênh như thế nào để họ hợp tác dài hạn trong thực hiện các mục tiêu phân phối của kênh? (3) Marketing- mix nên được sử dụng như thế nào để khuyến khích hoạt động của các thành viên kênh? (4) Cân phải đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống kênh và đưa ra những điều chỉnh thích hợp.
Trong các chương sau, chúng ta chủ yếu tập trung vào nghiên cứu hoạt động quản lý kênh về mặt chiến lược của các DN. Doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều công cụ để quản lý kênh về mặt chiến lược. Những biện pháp cơ bản bao gồm: - Quyết định duy trì mức độ liên kết chặt chẽ giữa các thành viên kênh - Sử dụng các công cụ khuyến khích các thành viên kênh tăng cường hoạt động. - Sử dụng marketing - mix trong quản lý kênh.
- Đánh giá hoạt động của các thành viên và toàn kênh để điều chỉnh hoạt động. - Mức độ và khả năng quản lộ hệ thống kênh phân phối của các DN phụ thuộc vào kiểu tổ chức kênh đã xác lập của DN. Những kênh đơn và kênh truyền thống, không cho phép DN quản lý toàn diện và với mức độ cao hoạt động của hệ thống kênh.