Chương I (Cuộc Đời của Đức Phật), Chương V (Lý Duyên Khởi Siêu Thế), Chương XII (Hồi Hướng Công Đức Cho Những Người Thân Quyến Thuộc), Chương XVI (Liệu Có Thể Một Người Chứng Đạt Thức Con Đường Đạo (Magga) Mà Không Chứng Ngộ Thức Đạo Quả (Phala) Trong Lập Tức?). Việc biên tập quyển sách này là sự lao động của Tâm Từ và lòng Hoan Hỷ. Hy vọng rằng quý độc giả sẽ tìm thấy được niềm thú vị khi đọc những trang viết này và những lợi lạc mà chúng có thể mang lại cho quý độc giả. Tri Ân & Hồi Hướng Công Đức 24 • Giáo trình Phật học Tôi mang ơn nữ Đạo Hữu Wooi Kheng Choo và Christine Lee Chin Har ở Hội Phật Giáo Subang Jaya, Malaysia vì đã miệt mài đọc lại bản thảo và đưa ra những gợi ý để hoàn thiện quyển sách.
Thành thật biết ơn sự trợ giúp của anh Tey Seng Heng, người đồng nghiệp trước đây của tôi ở Công ty Nghiên Cứu Nông Nghiệp Ứng Dụng (Applied Agricultural Research Sdn.) trong việc soạn thảo vi tính. Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những cá nhân các hội đoàn khác nhau đã ủng hộ cho việc xuất bản quyển sách này như một Giáo Trình Phật Học giúp nhiều người hiểu biết thêm về lịch sử và học thuyết của Phật giáo. Nguyện cho Công Đức của Pháp Thí này được hồi hướng cho những người thân quyến thuộc, những bạn bè và tất cả chúng sinh. Sadhu! Sadhu! Sadhu! Lành Thay! Lành Thay! Lành Thay! Chan Khoon San tháng Tám , 2010 Mục lục & Giới thiệu • 25 Về tác giả Đạo hữu Bro.
Chan Khoon San sinh ngày 8 tháng Tám, 1941 ở Penang, Malaysia. Sau khi học xong Đệ Lục hồi đó, ông đã học Trường Đại Học Sư Phạm Mã-Lai-Á (Malayan Teachers College) ở Brinsford Lodge, Anh Quốc. Sau khi tốt nghiệp, ông trở về quê hương và dạy học trong một thời gian ngắn từ năm 1964 đến 1967. Năm 1968, ông vào học trường Đại Học University of Malaya và tốt nghiệp bằng Cử Nhân Danh Dự ngành Hóa Học vào năm 1971.
Từ năm 1971 cho đến khi nghỉ hưu năm 1996, ông làm việc trong ngành nghiên cứu nông nghiệp dầu cọ, như là một Nhà nghiên cứu hóa nông thâm niên. Sau khi nghỉ hưu, đạo hữu Bro. Chan đi Miến điện Myanmar để tu học thiền Minh Sát Tuệ Tứ Niệm Xứ (Satipatthana Vipassana) dưới sự dẫn dắt của thiền sư Sayadaw Bhaddanta Janakabhivamsa ở Thiền Viện Chanmyay Yeiktha, thủ đô Yangon. Kể từ sau đó, hàng năm ông đều đến tu học và thực hành thiền Minh Sát Tuệ đã 15 năm tại Miến Điện dưới sự dẫn dắt của nhiều vị Thiền sư khác nhau ở thiền viện Chanmyay Yeiktha ở Hmawbi, Miến Điện.
Chan đã viết những quyển sách rất nổi tiếng về Phật học, như là: Hướng Dẫn Hành Hương Về Xứ Phật (Buddhist Pilgrimage), Không Có Tiểu Thừa Trong Phật Giáo đã xuất bản bằng tiếng Việt (bởi cùng người dịch), Giáo Trình Phật Học (Buddhism Course) mà quý độc giả đang cầm trên tay. 26 • Giáo trình Phật học Ông thường xuyên từ bi trao đổi những thông tin và kinh sách Phật học với người dịch. Ông đã giúp người dịch thật nhiều về bản quyền, chỉnh sửa, cập nhật thông tin. Hiện nay ông làm cố vấn ngành Hóa Nông bán thời gian cho những nghiên cứu nông nghiệp ở Malaysia.
Phần thời gian còn lại ông nghiên cứu và giảng dạy Kinh tạng tại nhiều Hội Phật Giáo ở Thung Lũng Klang, Malaysia; viết luận giảng, sách và xuất bản sách về Phật học. Tác giả là một cư sĩ nghiên cứu Phật học, một thiền giả, người có tâm nguyện cao đẹp và là một tấm gương đáng kính và đáng được tri ân trong sự nghiệp truyền bá Phật Pháp. TỨ DIỆU ĐẾ (Bốn Chân Lý Cao Diệu) 28 • Giáo trình Phật học NỘI DUNG 1. Tứ Diệu Đế Là Gì? 2.
Tại Sao Gọi Là Diệu Đế? 3. Chân Lý Về Khổ 4. Khổ Bởi Vì Năm Uẩn Dính Chấp 5. Chân Lý Về Nguồn Gốc Khổ (Dục Vọng) (1) Dục Vọng Khoái Lạc Giác Quan (2) Dục Vọng Được Sống và Liên Tục Hiện Hữu (3) Dục Vọng Vì Không Còn Liên Tục Hiện Hữu 6.
Chân Lý Về Sự Chấm Dứt Khổ 7. Sách & Tài Liệu Tham Khảo Tứ Diệu Đế • 29 I. Tứ Diệu Đế là gì? Sau 6 năm đấu tranh gian khổ trong kiếp sống cuối cùng của Người, Đức Phật đã tìm thấy Chân Lý khi Người chứng đạt sự Giác Ngộ Cao Nhất bên dưới gốc cây Bồ Đề (Bodhi) ở Bodhgaya, Ấn Độ (nơi này bây giờ được gọi là Bồ-Đề Đạo Tràng). Sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ này đã diễn ra vào Ngày Trăng Tròn của tháng Wesak, năm 588 trước CN.
Đề tài “Tứ Diệu Đế” này chính là trái tim và cốt lõi của đạo Phật. Những chân lý này, (chân lý hay có thể gọi một cách bình dị là những “sự thật” hay “lẽ thật” – ND), được tìm ra bởi Đức Phật sau khi Giác Ngộ, đã tạo nên nền tảng và cốt lõi của Giáo Pháp (Dhamma) và đã luôn luôn được bàn luận trong mọi vấn đề và từng phần của Giáo Pháp. Bốn Chân Lý Cao Diệu đó là: (1) Chân Lý về Khổ (2) Chân Lý về Nguồn Gốc Khổ (3) Chân Lý về Sự Chấm Dứt Khổ (4) Chân Lý về Con Đường dẫn đến Sự Chấm Dứt Khổ 30 • Giáo trình Phật học II. Tại sao gọi là những Chân Lý cao diệu? (a) Bởi vì những chân lý đó là lẽ thật và là sự thật không thể chối cãi được của cuộc đời.
Cho dù Đức Phật có được sinh ra ở cõi người này hay không, thì những chân lý đó cũng sẽ tồn tại trên thế gian này. Chính Đức Phật đã phát hiện ra những chân lý đó và truyền dạy lại cho nhân loại. Điều thứ hai, những điều đó được gọi là những chân lý bởi vì chúng thuộc về khoa học và đúng với khoa học về vật lý, tâm sinh lý – thiết nghĩ độc giả cần nắm rõ tư tưởng này ngay từ đầu. Phật giáo bàn luận về những lẽ thật và những chân lý, mặc dù Phật giáo không đề cập ngay đến vấn đề là ‘ai’ tạo ra chân lý đó, khoa học đó hay những quy luật vận động của sự sống và vũ trụ.
(b) Những chân lý đó được gọi là Cao Diệu bởi vì chúng được khám phá ra bởi một Thánh nhân vĩ đại nhất, một người đã hoàn toàn xa rời khỏi những ô nhiễm và bất tịnh. (Có thể dịch là cao diệu, cao cả, thánh thiện, thuộc bậc Thánh, không phải thuộc những chân lý bình thường của thế gian. Chữ Ariya trong tiếng Pali có nghĩa là bậc Thánh, thuộc bậc Thánh., vì vậy có rất nhiều sách đã dịch là Tứ Thánh Đế thay vì Tứ Diệu Đế - ND). Tứ Diệu Đế • 31 Nói cách khác, chúng được gọi là Chân Lý Cao Diệu hay Diệu Đế hay Thánh Đế, vì nó sẽ làm cho con người trở nên cao thượng nếu chịu khám phá ra chúng, nỗ lực thâm nhập và giác ngộ được chúng, thì những người ấy sẽ được gọi là những bậc Thánh nhân – những Ariya.
Để thuận tiện trong việc gọi tên trong giáo trình này, chúng ta thống nhất cách gọi là “Bốn Chân Lý Cao Diệu” hay “Tứ Diệu Đế” (HV), bởi vì cách gọi này cũng đã được thông dụng khá lâu trong giới Phật học ở Việt Nam. Bây giờ, chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu ý nghĩa của từng chân lý của Bốn Chân Lý Cao Diệu nói trên mà Đức Phật đã khai giảng. 32 • Giáo trình Phật học III. Chân Lý Về Khổ “Khổ” ở đây được dịch nghĩa từ chữ “Dukkha” trong tiếng Pali.
Thật ra chữ “dukkha” mang nhiều ý nghĩa rất rộng, rất sâu sắc về triết lý và thực tại để mô tả bản chất khổ, khổ sở, bất toại nguyện, bất ổn định, luôn thay đổi, chóng vánh, thăng trầm, sinh diệt, có rồi không, hư ảo, giả tạm. là những bản chất của sự sống và kiếp sống của con người, của tất cả chúng sinh và tất cả mọi sự trên thế gian. Những bản chất này gây ra tất cả mọi sự “khổ” cho mọi chúng sinh, mọi sự. Chân lý thứ nhất là Chân lý về Khổ (dukkha) bao gồm 11 lẽ thật trong cuộc đời chúng ta: (1) Sinh ra (Jati) là Khổ Theo Phật giáo, quá trình của mọi hiện tượng đều có 3 giai đoạn, đó là: Hình thành, tăng trưởng và tàn hoại.
Giai đoạn hình thành là Sinh, giai đoạn bình thường, tĩnh tại là giai đoạn Tăng trưởng & Già đi từng giây, từng ngày) và giai đoạn tàn hoại là Chết. Một chúng sinh được sinh ra có nghĩa là một sự hình thành mới về tinh thần và vật chất (tâm và thể xác) sau khi chết, tức là sau khi kiếp sống trước đã tàn hoại. Nói khác đi, một phôi thai mới được hình thành. Về sinh vật lý, không có sự đau khổ hay đau đớn nào ngay lúc đầu tiên Tứ Diệu Đế • 33 của sự hình thành một phôi thai hay một mầm mống của sự sống, nhưng vì sự tái sinh lại là tạo cơ sở, là bắt đầu để tạo ra sự hiện hữu kéo theo những sự “Khổ” về tinh thần và thể xác về sau này, nên sự sinh ra được xem là Khổ: là dukkha.
Nhiều người hay nói một cách ví von: “Hãy nhìn những đứa trẻ, vừa mới sinh ra là đã khóc, khóc ngay lúc chưa kịp mở mắt nhìn thấy thế gian như thế nào”. Hay một câu quen thuộc của một triết gia: “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Những cách nói đều mang một ý nghĩa man mác buồn: “sinh là khổ, sinh ra là đối diện với mọi sự khổ, còn tái sinh là Khổ”: Dukkha. (2) Già (Jara) là Khổ Già, đối với một con người, có nghĩa là tóc bạc, răng rụng, da nhăn nheo, lưng còng, tai điếc, mắt mờ.
Nói cách khác, sự tàn hoại, sự hoại diệt đã có sẵn bên trong của những tập hợp Uẩn thuộc về tinh thần và thể xác (danh sắc), rất dễ nhận ra từng ngày. Sự già đi về mặt tâm trí thì khó nhận thấy hơn, nhưng đến lúc người đã rất già, thì sự mất trí nhớ cũng như sự lão suy, sự lú lẫn sẽ diễn ra, cũng là lúc gần kề với sự ra đi, một chuyến đi xa mới. Sự già đi từng ngày trong giai đoạn còn sớm, là lúc những Uẩn về tinh thần và vật chất còn đang trong giai 34 • Giáo trình Phật học đoạn tĩnh tại, tăng trưởng bình thường và thực sự cũng không thể gọi là đau đớn hay đau khổ gì cả.