Chương 1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế, phát huy tốt nhất mọi tiềm năng và tận dụng cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra trong điều kiện biến động của môi trường. Mục tiêu của chương là cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về bản chất và vai trò của quản lý kinh tế. Các nội dung chính được đề cập trong chương bao gồm: lược sử các tư tưởng quản lý, khái niệm và đặc điểm của quản lý kinh tế, mục tiêu, động lực và vai trò của quản lý kinh tế. Đây là những kiến thức cơ bản và là cơ sở để nghiên cứu các nội dung tiếp theo trong giáo trình.
LƯỢC SỬ CÁC TƯ TƯỞNG QUẢN LÝ Tư tưởng quản lý là những quan điểm, ý tưởng về quản lý, phản ánh thực tiễn quản lý trong đời sống xã hội và trình độ nhận thức của con người qua các giai đoạn lịch sử. Cùng với sự phát triển của phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa, hoạt động quản lý được ra đời. Trải qua tiến trình phát triển của lịch sử, bắt đầu từ các nhà triết học cổ đại Hy Lạp và Trung Hoa, chúng ta chứng kiến sự hình thành và phát triển của các tư tưởng quản lý. Tuy nhiên, trong thời kỳ này, tư tưởng quản lý còn ở mức độ sơ khai, chưa phải là tư tưởng thuần túy quản lý mà chủ yếu được hòa trộn trong các tư tưởng triết học, chính trị, pháp lý, đạo đức.
Các nhà triết học cổ đại Hy Lạp và Trung Hoa chủ yếu bàn về cách thức tổ chức và hoạt động của nhà nước - vấn đề quản lý nhà nước và phương pháp cai trị đất nước, song cũng bắt đầu xuất hiện tư 17 tưởng quản lý vi mô. Mặc dù còn bị hạn chế dưới giác độ tư tưởng triết học song các tư tưởng quản lý này đã vạch ra được logic của quá trình quản lý xã hội, thể hiện trong “an dân, trị quốc, bình thiên hạ” cũng như đưa ra được trình tự tiến hành các hoạt động quản lý mà trong quản lý kinh tế ngày nay vẫn có thể vận dụng. Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do nhu cầu phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp, cùng với tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật, quản lý từng bước tách khỏi triết học và trở thành một khoa học độc lập. Dưới chủ nghĩa tư bản và cho đến tận ngày nay, tư tưởng quản lý kinh tế tiếp tục phát triển theo nhiều hướng, mang tính chuyên sâu, với nhiều trường phái khác nhau.
Sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX đã đem lại một cuộc cách mạng trong việc tổ chức sản xuất. Sự xuất hiện và phổ biến của máy móc làm cho quá trình sản xuất xã hội có bước nhảy vọt và thay đổi về chất. Tuy nhiên, bối cảnh mới này cũng đặt ra cho các nước tư bản nhiều thách thức, nhất là những vấn đề liên quan đến quản lý doanh nghiệp, giải quyết mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với người lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp. Những mâu thuẫn mà vấn đề này đòi hỏi cần phải thiết lập thể chế quản lý và phương pháp quản lý phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất lớn.
Chính yêu cầu mang tính lịch sử này đã thúc đẩy sự phát triển của các lý thuyết quản lý doanh nghiệp ở các nước tư bản. Tư tưởng quản lý doanh nghiệp lần lượt ra đời, đó là: Tư tưởng quản lý cổ điển với thuyết quản lý theo khoa học, quản lý hành chính, thuyết tổ chức xã hội và kinh tế; Tư tưởng quản lý thuộc trường phái hành vi với thuyết về mối quan hệ con người, học thuyết về hành vi; Tư tưởng quản lý hiện đại với lý thuyết hệ thống trong quản lý, học thuyết văn hóa trong quản lý, cách tiếp cận định lượng (trường phái khoa học quản lý), thuyết quản lý tổng hợp và thích nghi. Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền, không chỉ lực lượng sản xuất xã hội phát triển, cơ cấu kinh tế - xã hội biến đổi nhanh chóng đặt ra yêu cầu quản lý của 18 nhà nước mà các quan hệ cũng ngày càng phức tạp, xuất hiện nhiều vấn đề xã hội, các mâu thuẫn và xung đột xã hội trở nên phổ biến hơn. Để giải quyết mâu thuẫn xã hội, duy trì sự ổn định kinh tế và phát triển xã hội, nhà nước bắt đầu chuyển từ trạng thái bị động, từ vai trò “người gác đêm”, “bà đỡ” cho nền kinh tế thị trường ra đời sang trạng thái can thiệp một cách tích cực, chủ động vào đời sống kinh tế - xã hội nhằm bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản.
Giai đoạn này, các nhà kinh tế học tập trung xem xét mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, với các học thuyết kinh tế cổ điển về “bàn tay vô hình”, học thuyết Keynes, học thuyết kinh tế hỗn hợp. Trong cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, nhà nước của các nước xã hội chủ nghĩa đã xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng cũng như chăm lo đến các vấn đề xã hội (y tế, giáo dục, công bằng xã hội), thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, việc duy trì một nền kinh tế phi hàng hóa với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã dẫn tới triệt tiêu động lực phát triển và khủng hoảng kinh tế - xã hội trong toàn bộ hệ thống. Thực trạng này đòi hỏi các nước phải cải cách, đổi mới quản lý kinh tế theo hướng chuyển sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, song song với đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế.
Việc nghiên cứu lịch sử phát triển các tư tưởng quản lý giúp các nhà quản lý nắm được điểm cốt lõi của các tư tưởng quản lý một cách có hệ thống để vận dụng vào thực tiễn hoạt động quản lý, phù hợp với điều kiện cụ thể của môi trường. Tư tưởng quản lý thời kỳ cổ đại a) Tư tưởng quản lý của các nhà triết học cổ Hy Lạp Democritos (460-370 TCN) cho rằng nhà nước có nhiệm vụ quản lý, điều hành mọi hoạt động xã hội. Trong quản lý đất nước, nhà nước có thể lựa chọn ba phương pháp cơ bản, đó là: Phương pháp dân chủ đối với con người; Phương pháp dùng hình phạt đối với các hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức xã hội; Phương pháp tác động đến nhu cầu và 19 lợi ích của con người khiến con người tuân thủ. Đến Socrates (470-399 TCN), ông đã đưa ra khái niệm về tính toàn năng của quản lý.
Theo đó, những người biết cách sử dụng con người sẽ điều khiển công việc, hoặc cá nhân, hoặc tập thể một cách sáng suốt, trong khi đó những người không biết làm như vậy sẽ mắc phải sai lầm trong việc điều hành công việc này. Tư tưởng của Socrates được kế thừa bởi Platon (427-347 TCN). Theo Platon, cần xây dựng một nhà nước lý tưởng bởi đó là công cụ duy nhất có thể quản lý xã hội, làm cho mọi người dân luôn được sống hạnh phúc và thỏa mãn, của cải được phân chia đồng đều, tất cả lợi ích là vì xã hội. Cùng quan điểm trong học thuyết về xã hội, Aristoteles (384-322 TCN), cho rằng con người là loài sinh vật xã hội, mang bản tính loài và sinh sống theo cộng đồng.
Vì vậy, họ tất yếu cần được quản lý theo một thể chế hay trong một thiết chế nhất định, đó là nhà nước. Quyền lực nhà nước suy cho cùng là sự mở rộng của quyền lực gia đình. Hình thức cao nhất của quyền lực nhà nước là những hình thức trong đó loại trừ được khả năng sử dụng quyền lực một cách tư lợi và quyền lực phải phục vụ cho toàn xã hội. Cũng theo Aristoteles, quyền lực nhà nước có thể chia thành 3 nhánh: hành pháp, lập pháp, phân xử - đây được xem là tư tưởng quan trọng trong hình thành quan điểm nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập.
b) Tư tưởng quản lý của các nhà triết học Trung Hoa cổ đại Tư tưởng quản lý Trung Hoa cổ đại nổi bật với hai trường phái “đức trị” của Khổng Tử (551-479 TCN) và “pháp trị” của Hàn Phi Tử (280-233 TCN). Tư tưởng của Khổng Tử xuất phát từ quan niệm con người có tính thiện. Công cụ chủ yếu để cai trị xã hội là “đức” và phương pháp chủ yếu để quản lý con người là nêu gương, giáo dục họ. Theo đó, Khổng Tử phân chia các giá trị xã hội thành ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Dũng, đồng thời chia các mối quan hệ xã hội thành tam cương (quan hệ vua - tôi, cha - con, thầy - trò).
Đối với con người, ông chia thành hai loại là quân tử và tiểu nhân. Quân tử là người hiểu biết, là kẻ sỹ. Người quân tử biết tu thân, tề gia thì có thể trị quốc, bình thiên hạ, có thể làm người cai trị - quản lý, giáo hóa người khác và 20 do tu luyện về đạo đức, trí năng mà thành. Với phương pháp nêu gương, bản thân người quân tử không những không được cầu danh, cầu lợi cho bản thân mà phải luôn xem xét lại mình.
Trong khi đó, tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử cho rằng bản chất con người có tính ác, mưu lợi cho bản thân và lý luận phải tùy thời mới có ích. Theo Hàn Phi Tử, chỉ có một số ít thánh nhân có tính thiện, còn đại đa số vốn có tính ác, sẵn sàng giết nhau vì miếng ăn hay chức vị. Trong đời sống xã hội, việc tranh giành hay nhường ngôi đều xuất phát từ điều lợi. Và bởi con người luôn dùng mọi thủ đoạn để kiếm lợi cho bản thân nên Hàn Phi Tử chủ trương dùng hình phạt (pháp trị) để ngăn ngừa những hành động của dân có hại cho nước.
Tuy nhiên, pháp trị không thể thiếu quyền của người cai trị và “thủ đoạn” trong sử dụng thế và luật pháp. Vì vậy, Hàn Phi Tử đưa ra 3 khái niệm cơ bản trong quản lý - cai trị là “thế” (quyền lực), “pháp” (luật pháp), “thuật” (phương pháp quản lý), trong đó “pháp” là yếu tố quan trọng nhất, có tính quyết định.