Chương I TIỀN TỆ■ TRONG NÊN KINH TÊ THỊ• TRIÌỐNG 1. Nguồn gốc, bản chất, chức nảng, vai trò của tiền tệ 1. Nguồn gốc ra đờỉ và quá trình phát triển của tiền tệ% Khi loài ngưòi mối bắt đầu xuất hiện, họ phải tự tìm kiếm hoặc làm tất cả những thứ mình cần mà không phải dựa vào ngưồi khác. Cộng đồng này sông độc lập với cộng đồng khác, họ tự lo chỗ ồ, tự tìm kiếm thức ăn khi đói và tự tạo quần áo để tránh rét.
Khi loài ngưòi phát triển hđn, họ không những có thể kiếm đủ cho nhu cầu hàng ngày mà còn có vật phẩm dư thừa và hoạt động trao đổi những vật phẩm dư thừa này bắt đầu xuất hiện giữa các cộng đồng ngưòi. Việc trao đổi này mang tính châ^t trực .tiếp, một hàng hoá này đổi lấy một hàng hoá khác mà không cần có vật tnôi giới trung gian. Cách thức trao đổi này đòi hỏi mỗi người phải tìm cho được một người khác niuôn cái người này đang thừa và có cái ngưòi kia đang muốh sở hữu. Khi trao đổi phát triển hơn, việc tìm kiếm một ngưồi như vậy trỏ nên khó khăn, bên cạnh đó còn tôn kém nhiều thòi gian.
Những hạn chế của trao đổi trực tiếp đã làm xuất hiện những tập đoàn ngưòi với đủ thứ hàng hoá khác nhau, đi từ nơi này đến nơi khác để tiến hành trao đổi với nhiều cộng đồng ngưòi khác nhau. Cùng vói sự phát triển của các hoạt động thương mại, sự ra đời của các quốc gia đã kéo theo đòi hỏi phải tiêu chuẩn hoá các phương thức và phưđng tiện thanh toán tại những nơi họp chợ và các thương cảng. Những vật làm trung gian trong trao đổi xuất hiện, được mọi ngưồi chấp nhận ỉàm phương tiện để trao đổi với các hàng hoá khác, ở thòi kỳ này, đã có nhiều đồ vật đưỢc sử dụng làm phương tiện để trao đổi như: vải dệt, hạt ca cao, ốc, vàng, sắt thỏi, đồng, đại mạch, lúa mì, kê, lụa,. trong đó kim loại có vị trí đặc biệt khiến nó dần trở thành công cụ được ưa thích nhất trong các hoạt động buôn bán và đóng thuế.
Đầu tiên, kim loại đưỢc sử dụng là phương tiện trao đổi dưới dạng thỏi, sau đó nó đưỢc đúc dưới dạng tiền đúc. Ban đầu các kim loại sắt, thiếc, kẽm, đồng đưỢc sử dụng để đúc tiền, sau đó là những đồng tiền đúc bằng bạc và vàng. Đến đầu thế kỷ XIX, vàng được sử dụng phổ biến để đúc tiền ở các nưốc. Vối sự xuất hiện của hệ thốhg ngân hàng vào đầu thế kỷ XIV, các chứng chỉ tiền gửi do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn được sử dụng làm phương tiện thanh toán ỏ Châu Âu, sau đó nó đưỢc thay thế bằng giấy bạc được đảm bảo bằng vàng của ngân hàng phát hành và lưu hành song song vói tiền đúc của nhà nước.
Đến đầu thế kỷ XX, giấy bạc ngân hàng thay thế hoàn toàn các loại tiền đúc bằng kim loại quý như vàng, bạc. Sau khi chế độ tiền tệ Bretton Woods sụp đổ, giấy bạc ngân hàng không còn mối liên hệ chính thức với vàng như trưóc nữa. Như vậy, sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá đã đòi hỏi phải có một vật nào đó làm môi giới trung gian trong trao đổi, đóng vai trò vật ngang giá chung khi trao đổi chuyển từ trực tiếp sang gián tiếp. Cũng chính sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá cùng vối sự can thiệp của nhà nước đã dẫn tới sự thay thế phương tiện trao đổi này bằng phương tiện trao đổi khác.
Tiền tệ ra đòi và phát triển xuất phát từ đòi hỏi của nhu cầu trong thực tiễn: nhu cầu trao đổi và lưu thông hàng hóa. Bản chất của tiền tệ Tiền tệ là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trao đổi hàng hoá dịch vụ. Suy cho cùng, về bản chất, tiền tệ là vật ngang giá 6 chung, làm phương tiện để trao đổi hàng hoá, dịch vụ và thanh toán các khoản nỢ.Mishkin thì; “tiền tệ là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ, hoặc trong việc trả nợ”.^ Như vậy, về bản chất, tiền tệ được định nghĩa như sau: Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt, được tách ra khỏi thê giới hàng hóa, đóng vai trò vật ngang giá chung đ ể đo giá trị của tất cả các hàng hóa khác. Nó trực tiếp thể hiện hao p h í lao động xã hội và quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá.
Tiền có th ể thỏa mãn được một s ố nhu cầu của người sở hữu nó tương ứng với lượng giá trị mà người đó tích lũy được. Tiền tệ là hàng hóa nên nó cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị thực của tiền tệ là toàn bộ những hao phí lao động xã hội để sản xuất giấy in tiền, mực in, và công in tiền. Giá trị sử đụng của tiền là để trao đổi.
là hàng hóa đặc biệt nên tiền tệ có giá trị sử dụng đặc biệt đó là giá trị sử dụng xã hội. Tiền tệ có thể thỏa mãn các nhu cầu về sử dụng hàng hóa - dịch vụ của ngưòi sở hữu nó. Chức n ă n g củ a tiền tệ 1. Chức hăng thước đo giá trị Đây là chức năng cơ bản thứ nhất của tiền tệ.
Thông qua giá trị của mình, tiền tệ đo lưòng và thể hiện giá trị của hàng hóa khác. Tiền tệ là đơn vỊ đo lường giá trị, nghĩa là nó đưỢc dùng để đo lường giá trị các hàng hoá dịch vụ trước khi thực hiện trao đổi. Ngưòi ta đo giá trị của hàng hoá và dịch vụ bằng tiền giống như ngưòi ta đo trong lượng của một vật b ằ n g kg, đo chiều dài một vật bằng mét. Để thấy được vì sao chức năng này quan trọng, chúng ta hãy so sánh quá trình trao ’ Prederic S.Mishkin - Trường đại học Columbia (Mỹ) - K[inh tế tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, 1992 đổi hiện vật vói trao đổi hàng hoá có tiền làm môi giới trung gian trong trao đổi.
Trong quá trình trao đổi, có ba mặt hàng A, B, c 9ược đưa ra để trao đổi thì chúng ta cần phải biết giá trị của các mặt hàng này để có thể trao đổi chúng với nhau. Đó là: Giá của hàng hoá A được tính bằng bao nhiêu hàng hoá B Giá của hàng hoá A được tính bằng bao nhiêu hàng hoá c Giá của hàng hoá c được tính bằng bao nhiêu hàng hoá B Tưdng tự, nếu có 10 mặt hàng đưa ra trao đổi, chúng ta phải cần biết 45 giá để có thể trao đổi hàng này lấy một hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta cần tới 4.950 giá, và với 1.000 mặt hàng thì chúng ta cần biết 499. Nếu nền kinh tế có tiền tệ làm môi giới, thì ngưòi ta định giá bằng đơn vị tiền tệ cho tất cả các hàng hoá đem trao đổi trên thị trưòng. Do vậy, có bao nhiêu hàng hoá đem trao đổi thì có bấy nhiêu giá cả.
Có nghĩa là nếu có 3 hàng hoá đem trao đổi thì có 3 giá, nếu có 10 hàng hoá đem trao đổi thì có 10 giá, nếu có 100 hàng hoá đem trao đổi thì có 100 giá. Như vậy, việc dùng tiền làm đớn vỊ đánh giá sẽ thuận lợi rất nhiều cho quá trình trao đổi hàng hoá, giảm đưỢc chi phí trong trao đổi do giảm được số giá cần xem xét. Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, giá trị của tiền đưỢc coi là “chuẩn mực” để đây mổi thể hiện phép đo hàng hóa khác phải so sánh vói nó. Thông qua quan hệ này, các hàng hóa thể hiện giá trị của mình thông qua giá cả.
Nói cách khác, tiền tệ là thưóc đo hao phí lao động xã hội kết tinh trong hàng hóa. Để thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ cần đạt những tiêu chuẩn sau: 1. Tiêu chuẩn giá trị (tiền phải có đủ giá trị): tất cả các hàng hóa đều có giá trị nội tại. Yì vậy, để đo được lượng giá trị này thì “thước đo” tiền tệ phải có một lượng giá trị nào đó, 8 nghĩa là chỉ có tiền thực có đầy đủ giá trị nội tại mổi làm đưỢc chức năng thước đo giá trị.
Tuy nhiên, việc biểu hiện giá trị của hàng hóa chỉ là ý niệm, chỉ tồn tại trong quan niệm. Không cần có mặt những đồng tiền vàng, những ngưồi trao đổi hàng hóa vẫn có thể ước lượng giá trị của hàng hóa tương đốì chính xác. Lúc này phép đo giá trị vẫn thực hiện được mà không cần sự hiện diện thước đo. Đây chính cỡ sồ dẫn đến hiện tưđng “phi vật chất” thước đo giá trị.
Tiền tệ phải có tiêu chuẩn giá cả. Để đo lưòng giá trị hàng hóa thì bản thân tiền phải được đo lưòng, nghĩa là tiền tệ phải có tiêu chuẩn giá cả. Tiêu chuẩn giá cả là đớn vị đo lưòng của một quốc gia, đưỢc pháp luật nhà nước quy định, gồm 2 yếu tô": tên gọi đdn vỊ tiền tệ và hàm lượng vàng trong một đơn vị tiền tệ. - Đơn vị tiền tệ của mỗi quốc gia có tên gọi riêng.
Ví dụ: đơn vị tiền tệ của Mỹ gọi là đôla Mỹ (USD), đđn vỊ tiền tệ của Việt Nam được gọi là Việt Nam đồng (VNĐ). Từ tiền đơn vị, nhà nước quy định tiền ước sô" và tiền bội số. VD: Đô la Mỹ có tiền ước sô' là cent, tiền bội số là 5 đôla, 10 đô la 100 đô la. Việt Nam đồng có tiền ước số là: hào, xu, tiền bội số có 100 đồng.
- Để thực hiện chức năng giá trị, nhà nưôc quy định hàm lượng vàng cho mỗi đơn vị tiền tệ. Ví dụ: trước Chiến tranh thế giói lần thứ hai, hàm lượng vàng của Iđôla Mỹ là 0,888671 gr vàng, 1 phrăng Pháp là 0,0655 gr vàng. Do xuất hiện quá trình phi vật chất thưổc đo giá trị, làm cho “hàm lượng vàng” của tiêu chuẩn giá cả mất dần đi ý nghĩa của nổ. Trong thực tế khi sử dụng tiền ngưòi ta không quan tâm tới hàm lượng vàng của đơn vị tiền tệ mà chỉ quan tâm tới sô" lượng tiền hiện có sẽ mua đưỢc bao nhiêu hàng hóa, tức là sức mua của đồng tiền đó là cao hay thấp.
Trong nền kinh tế thị trường, tiền tệ cho phép các nhà kinh doanh đánh giá được khoản thu nhập của mình bằng 9 tiền để có các quyết định tiếp theo liên quan đến hoạt động kinh doanh.