Giáo Trình Luật Hình Sự Việt Nam Phần Chung - Đại Học Luật Hà Nội | Nguyễn Ngọc Hòa & Hoàng Văn Hùng

Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần chung, biên soạn bởi Nguyễn Ngọc Hòa và Hoàng Văn Hùng, cung cấp kiến thức chuyên sâu về luật hình sự, phục vụ sinh viên Đại học Luật Hà Nội.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Hình Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình

2017

399
16
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM LUẬT HÌNH SỰ

1.2. CÁC NHIỆM VỤ (CHỨC NĂNG) CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.2.1. Chức năng chống và phòng ngừa tội phạm

1.2.2. Chức năng bảo vệ của luật hình sự

1.2.3. Chức năng giáo dục của luật hình sự

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Giáo trình Luật Hình Sự Việt Nam Phần Chung

Giáo trình Luật Hình Sự Việt Nam Phần Chung là tài liệu quan trọng được biên soạn bởi Trường Đại Học Luật Hà Nội, dưới sự chủ biên của GS. Nguyễn Ngọc Hòa và sự tham gia của nhiều chuyên gia như TS. Hoàng Văn Hùng. Giáo trình này được xuất bản lần đầu năm 2000 và đã trải qua nhiều lần tái bản, trong đó lần in thứ 23 vào năm 2017 có sự chỉnh lý, bổ sung để phù hợp với Bộ Luật Hình Sự Việt Nam năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Giáo trình được chia thành ba quyển, trong đó Phần Chung tập trung vào các vấn đề lý thuyết cơ bản của Luật Hình Sự Việt Nam, bao gồm khái niệm, nhiệm vụ, nguyên tắc, và các quy định chung về tội phạm và hình phạt.

1.1. Mục đích và đối tượng sử dụng

Giáo trình được biên soạn nhằm phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, và giảng dạy của sinh viên, giảng viên, và các đối tượng khác quan tâm đến Luật Hình Sự Việt Nam. Với cấu trúc khoa học và nội dung cập nhật, giáo trình là tài liệu tham khảo không thể thiếu trong lĩnh vực Học LuậtNghiên Cứu Luật.

1.2. Cấu trúc và nội dung chính

Giáo trình được kết cấu theo các vấn đề lý thuyết và nhóm tội phạm, đảm bảo tính khoa học và căn cứ pháp lý. Các chương trong Phần Chung tập trung vào khái niệm, nhiệm vụ, nguyên tắc của Luật Hình Sự, cũng như các quy định chung về tội phạm và hình phạt. Cách trình bày rõ ràng, sử dụng các thuật ngữ thống nhất, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và hiểu sâu các vấn đề pháp lý.

II. Khái niệm và nhiệm vụ của Luật Hình Sự Việt Nam

Luật Hình Sự Việt Nam là ngành luật trong Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ xã hội phát sinh khi có hành vi phạm tội xảy ra. Nhiệm vụ chính của Luật Hình Sự là xác định các hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định hình phạt tương ứng. Giáo trình nhấn mạnh rằng Luật Hình Sự không chỉ là công cụ trừng phạt mà còn có chức năng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

2.1. Đối tượng điều chỉnh của Luật Hình Sự

Đối tượng điều chỉnh của Luật Hình Sự là quan hệ xã hội giữa Nhà nước và người phạm tội. Khi có hành vi phạm tội xảy ra, Nhà nước có quyền buộc người phạm tội chịu Trách Nhiệm Hình Sự, bao gồm hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Giáo trình cũng đề cập đến việc mở rộng phạm vi chủ thể chịu trách nhiệm hình sự, bao gồm cả pháp nhân thương mại.

2.2. Phương pháp điều chỉnh của Luật Hình Sự

Phương pháp điều chỉnh của Luật Hình Sự là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng, trong đó Nhà nước có quyền buộc người phạm tội chịu trách nhiệm hình sự. Các quy phạm pháp luật hình sự không chỉ xác định tội phạm và hình phạt mà còn gián tiếp điều chỉnh hành vi của con người thông qua việc răn đe, ngăn ngừa tội phạm.

III. Chức năng và giá trị thực tiễn của Luật Hình Sự

Luật Hình Sự Việt Nam có ba chức năng chính: chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng, và giáo dục ý thức pháp luật. Giáo trình nhấn mạnh rằng Luật Hình Sự là công cụ pháp lý sắc bén, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, và trật tự xã hội. Đồng thời, thông qua việc xử phạt người phạm tội, Luật Hình Sự còn có chức năng giáo dục, răn đe, và định hướng hành vi của con người.

3.1. Chức năng chống và phòng ngừa tội phạm

Chức năng chống tội phạm bao gồm việc phát hiện, điều tra, truy tố, và xét xử tội phạm. Trong khi đó, chức năng phòng ngừa tội phạm tập trung vào các biện pháp ngăn chặn tội phạm xảy ra. Giáo trình chỉ rõ rằng hiệu quả của hai chức năng này phụ thuộc vào sự hoàn thiện của Luật Hình Sự và khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

3.2. Chức năng bảo vệ và giáo dục

Chức năng bảo vệ của Luật Hình Sự thể hiện qua việc bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng trước sự xâm hại của tội phạm. Chức năng giáo dục được thực hiện thông qua việc xử phạt người phạm tội, nhằm răn đe và giáo dục ý thức pháp luật cho toàn xã hội.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I KHÁI NIỆM, NHIỆM VU VÀ CAC NGUYÊN TAC CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM I. KHÁI NIỆM LUẬT HÌNH SỰ Luật hình sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật có đối tượng và phương pháp điều chỉnh đặc biệt, tuân theo các nguyên tắc và thực hiện các nhiệm vụ riêng. Với tính chất là ngành luật, luật hình sự được hiểu là hé thống các quy phạm pháp luật xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định hình phạt có thể áp dụng cho các tội phạm đó. Với hai nội dung như vậy mà ngành luật này có tên gọi gắn với một trong hai nội dung đó - tội phạm hoặc hình phạt.

Vi du: Trong tiếng Anh, ngành luật này thường được gọi là Criminal Law (pháp luật hay ngành luật về tội phạm); còn trong tiếng Đức, ngành luật này lại thường được gọi là Strafrecht (pháp luật hay ngành luật về hình phạt). Trong tiếng Việt, hình sự có nghĩa là sự trừng tri, trừng phạt và ngành luật hình sự cũng có nghĩa là ngành luật về trừng phạt hay về hình phạt. Khái niệm luật hình sự có thé được dùng đề chỉ ngành luật nhưng cũng có thé được hiểu là một trong những hình thức văn bản quy phạm pháp luật - luật (hoặc bộ luật) của ngành luật hình sự. Luật hình sự còn có thé được dùng dé chỉ môn khoa học nghiên cứu ngành luật hình sự.

Quy phạm pháp luật của ngành luật hình sự được hình thành qua các quy định của pháp luật. Đó là các quy định chung về tội phạm và hình phạt, là các quy định về các tội phạm cụ thể và các khung hình phạt cụ thé. Các quy định này đều phải được thé hiện ở hình thức văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam hay nói cách khác, các quy định về tội phạm và hình phạt phải do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ban hành vì tính đặc biệt của các quy định này. Bên cạnh nội dung quy định hình phạt, ngành luật hình sự còn quy định các biện pháp hình sự khác không phải là hình phạt.

Trong các BLHS Việt Nam, các biện pháp này có tên gọi là các biện pháp tư pháp và được coi là các biện pháp hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt. Các biện pháp phi hình phạt này có xu hướng phát triển trong luật hình sự của các nước cũng như của Việt Nam. Tuy nhiên, hình phạt vẫn là biện pháp cưỡng chế hình sự chính và có tính đặc trưng của ngành luật hình sự. Do vậy, khi nói về ngành luật hình sự, các tài liệu thường chỉ nói đến hình phạt.

BLHS Việt Nam khi xác định nhiệm vụ của mình cũng chỉ viết: “. Bộ luật này quy định về tội phạm và hình phat”. (Điều 1 BLHS) Với nội dung xác định tội phạm và quy định hình phạt, ngành luật hình sự có đối đượng diéu chỉnh và phương pháp diéu chỉnh đặc biệt. Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự Đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự trước hết là quan hệ xã hội giữa Nhà nước và người phạm tội.

Khi có sự 10 kiện tội phạm xảy ra - một loại quan hệ xã hội đặc biệt giữa Nhà nước và chủ thê đã gây ra sự kiện tội phạm đó được phát sinh. Ngành luật hình sự điều chỉnh quan hệ xã hội này qua việc xác định quyền và nghĩa vụ pháp lí của hai chủ thé - Nhà nước và người phạm tội. Trong quan hệ này, người phạm tội có nghĩa vụ pháp lí phải chịu TNHS, trong đó có hình phạt còn Nhà nước có quyền buộc người phạm tội phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí đó. Đối với người phạm tội, Nhà nước có quyền buộc họ phải chịu TNHS; đối với xã hội, Nhà nước có trách nhiệm xử lí nghiêm minh những người đã thực hiện hành vi phạm tội để bảo đảm trật tự xã hội, trấn áp tội phạm.

Người phạm tội, tuy có nghĩa vụ pháp lí phải chịu TNHS nhưng cũng có quyền yêu cầu Nhà nước chỉ được buộc mình chịu TNHS đúng với quy định của pháp luật. Với việc quy định TNHS của pháp nhân thương mại, luật hình sự Việt Nam đã mở rộng phạm vi chủ thể phải chịu TNHS và do vậy cũng mở rộng đối tượng điều chỉnh của mình. Theo đó, ngành luật hình sự cũng điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước với pháp nhân thương mại phải chịu TNHS. Trong quan hệ nay, Nha nước có quyền và nghĩa vụ đối với pháp nhân thương mại phải chịu TNHS tương tự như đối với người phạm tội.

Trái lại, pháp nhân thương mại phải chịu TNHS cũng có nghĩa vu và quyên tương tự như người phạm tội. Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là quan hệ xã hội có tính đặc thù. Quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự không những không cần thiết cho sự t6n tại và phát triển của xã hội mà trái lại, xã hội đã phải chịu sự tác động II xấu khi quan hệ xã hội này phát sinh. Các quan hệ xã hội cần thiết cho xã hội được các ngành luật khác điều chỉnh như quan hệ sở hữu được ngành luật dân sự điều chỉnh, quan hệ vợ chồng được ngành luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh v.

đều không phải là đối tượng điều chỉnh của ngành luật hình sự nhưng có thé là đối ượng bảo vệ của ngành luật hình sự khi bi xâm hại ở mức độ nhất định. Các ngành luật khác có thể vừa điều chỉnh và vừa bảo vệ cùng nhóm các quan hệ xã hội nhất định, còn ngành luật hình sự chỉ điều chỉnh một loại quan hệ xã hội - quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội cũng như với pháp nhân thương mại phải chịu TNHS và bảo vệ nhiều loại quan hệ xã hội khác được các ngành luật khác điều chỉnh. Với lí do này mà quy phạm pháp luật hình sự có thê được coi là guy phạm pháp luật bảo vệ mà không phải là guy phạm pháp luật diéu chinh. Quy phạm pháp luật hình sự không chi xác định quyền và nghĩa vụ pháp lí của các chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự mà còn là tiêu chuẩn dé xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người có phải là tội phạm hay không.” Là tiêu chuẩn đánh giá hành vi của con người, quy phạm pháp luật hình sự tuy không trực tiếp điều chỉnh xử sự của con người (1).

Đào Trí Úc thì luật hình sự có thể bảo vệ cả các quan hệ xã hội chưa được ngành luật nào điều chỉnh (Đào Trí Úc, Luật hình sự Việt Nam, Quyến 1 - Những van dé chung, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. Theo cách phân loại quy phạm pháp luật được trình bày trong Giáo frình lí luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr.

396; (hoặc trong cuốn Li luận về nhà nước và pháp luật của PGS. Nguyễn Văn Động, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr. Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lí luận nhà nước và pháp thuật, sdd, tr.

12 trong cuộc sống hàng ngày như các ngành luật khác (mà chỉ điều chỉnh xử sự của Nhà nước và người phạm tội cũng như pháp nhân thương mại phải chịu TNHS sau khi có sự kiện tội phạm xảy ra) nhưng vẫn có tác động điều chỉnh xử sự đó của con người. Quy phạm pháp luật hình sự xác định tội phạm, quy định hình phạt và qua đó gián tiếp “cam đoán” việc thực hiện những hành vi bi coi là tội phạm - những hành vi đã được quy định trong luật hình sự. Với lí do này mà quy phạm pháp luật hình sự còn có thé được coi là quy phạm pháp luật cam đoán và sự cắm đoán này gián tiếp điều chỉnh xử sự của con người theo hướng tránh thực hiện hành vi phạm tội. Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng điều chỉnh cũng như nội dung quyền, nghĩa vụ pháp lí của các chủ thé trong quan hệ pháp luật hình sự, có thể rút ra phương pháp điều chỉnh của ngành luật hình sự là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng.

Trong quan hệ pháp luật hình sự, Nhà nước có quyền buộc người phạm tội phải chịu TNHS, phải chịu hình phạt; người phạm tội có nghĩa vụ pháp lí phải thực hiện TNHS, chấp hành hình phạt và việc chấp hành này không thể tránh khỏi vì nó được bảo đảm băng cưỡng chế của Nhà nước. Trong trường hợp pháp nhân thương mại cùng phải chịu TNHS với cá nhân về tội phạm đã xảy ra, Nhà nước có quyền buộc pháp nhân thương mại phải chịu hình phạt; pháp nhân thương mại có nghĩa vụ pháp lí phải chấp hành hình phạt. Phương pháp điều chỉnh của ngành luật hình sự là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng. Theo đó, các quy phạm pháp luật 13 hình sự đều có cách thức tác động chung là bat buộc người phạm tội cũng như pháp nhân thương mại trong trường hợp nhất định phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí là TNHS.

Qua đó, quy phạm pháp luật hình sự cũng gián tiếp điều chỉnh hành vi của con người trong cuộc sống hàng ngày với cách thức tác động là cám đoán. Ngoài ra, trong luật hình sự còn có một số điều luật mà cách thức tác động là cho phép (được thực hiện quyền nhất định như quyền phòng vệ chính đáng v. Tuy nhiên, cách thức tác động cam đoán và cho phép đều không phải là cách thức tác động đặc trưng của ngành luật hình sự. Tóm lại, phương pháp điều chỉnh của ngành luật hình sự là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng và cách thức tác động đặc trưng là bắt buộc.

Quy phạm pháp luật hình sự Nội dung của quy phạm pháp luật hình sự được thé hiện thông qua các quy định của luật. Đó là các quy định chung về tội phạm và hình phạt; các quy định về các tội phạm cụ thể và các khung hình phạt cụ thể. Các quy định chung về tội phạm và hình phạt tạo thành Phần chung của luật hình sự; Phần các tội phạm của luật hình sự là phần được hình thành bởi các quy định về tội phạm cụ thể và khung hình phạt cụ thé có thé được áp dụng cho tội phạm cụ thể đó. Quy phạm pháp luật hình sự được thé hiện qua các quy định của luật hình sự hay nói cách khác là qua các điều luật.

Giữa quy phạm pháp luật hình sự và điều luật của luật hình sự có sự 14 khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giáo trình Luật Hình Sự Việt Nam Phần Chung - Đại Học Luật Hà Nội của Nguyễn Ngọc Hòa & Hoàng Văn Hùng là tài liệu chuyên sâu về các nguyên tắc cơ bản và quy định chung của luật hình sự Việt Nam. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các khái niệm như tội phạm, trách nhiệm hình sự, và các biện pháp xử lý, giúp người đọc nắm vững kiến thức nền tảng trong lĩnh vực này. Đặc biệt, giáo trình phù hợp cho sinh viên, nghiên cứu sinh, và những người hành nghề luật muốn hiểu sâu về luật hình sự.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học chế định đồng phạm theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015, nghiên cứu chi tiết về đồng phạm trong luật hình sự. Ngoài ra, Khoá luận tốt nghiệp thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh hải dương cung cấp góc nhìn thực tiễn về các thủ tục tố tụng hình sự. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về đăng ký kết hôn thực tiễn tại uỷ ban nhân dân phường thanh vinh thị xã phú thọ tỉnh phú thọ giúp hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật liên quan đến hôn nhân và gia đình.

Các tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mang đến góc nhìn đa chiều, giúp bạn hiểu sâu hơn về các khía cạnh pháp lý trong thực tiễn.