Chương I Những chuyển biến trong xã hội quân nhân Tiết 1: Tổ chức cai trị của Mạc phủ Muromachi.1-Việc xác định quyền uy của Shôgun: Trong phần II của Giáo Trình Lịch Sử Nhật Bản, trước tiên chúng ta sẽ đề cập đến công cuộc thống nhất hai triều đình Nam Bắc vốn đã phân ly trong nhiều năm do sự bất đồng về quyền thừa kế giữa nội bộ hoàng tộc. Kế tiếp ta sẽ bàn tới diễn biến chính trị của hai Mạc phủ Muromachi và Tokugawa cho đến thời điểm cuối thế kỷ 19, lúc nhà nước Nhật Bản đứng trước nguy cơ một mất một còn khi phải trả lời chấp nhận hay không yêu cầu của ngoại quốc đòi mở cửa thông thương. Cuộc thống nhất hai triều Nam Bắc đã thành công vào năm Meitoku thứ 3 (1392) dưới thời Tướng Quân Ashikaga Yoshimitsu (Túc Lợi Nghĩa Mãn, 1358-1408), người cầm quyền Mạc Phủ Muromachi trong giai đoạn 1368-1394. Năm 1368 (Ôan nguyên niên), sau khi tức vị, Yoshimitsu đã dẹp yên cuộc nội chiến kéo dài cho đến lúc đó, thực hiện sự hòa giải giữa hai triều đình.
Ông đặt Kyôto, trung tâm công thương nghiệp cả nước thời bấy giờ, dưới sự quản lý của mình. Đồng thời ông đã dành được quyền trưng thu một thứ thuế tạm thời gọi là tansen (đoạn tiền, đoạn (tan) là đơn vị đo đạc = 991,7 m2) đánh vào đồng ruộng ở các tiểu quốc địa phương để bù đắp kinh phí tổ chức lễ tức vị cho thiên hoàng, kiến tạo cung điện trong đại nội và sửa sang Thần cung Ise, nơi tế tự của hoàng tộc. Như thế, Yoshimitsu đã tước đoạt cái quyền mà xưa nay gia đình Thiên Hoàng xem như là của riêng họ. Đặt được hoàng gia dưới tay mình thì Mạc Phủ Muromachi đã có khả năng thành lập và xác định được một chính quyền thống nhất trên cả nước.
Sự kiện này là tiền đề chúng ta nên chấp nhận trước khi muốn bàn xa hơn. Tuy nhiên, cần biết thêm là lúc đầu, tại sao Mạc phủ lại mang tên Muromachi. Thực ra vào năm 1378 (Eiwa 4), Shôgun Yoshimitsu đã cho kiến tạo phủ đệ của mình trong vùng Muromachi (Thất Đinh) ở Kyôto và cho trồng nhiều hoa thơm cỏ lạ (Muromachi còn có mỹ xưng là hana no gosho tức khu dinh thự đầy hoa)126. Từ nơi đây, ông bắt đầu 126 Còn có tên là Kaei (Hoa dinh), Katei (Hoa đình) bởi vì xưa kia bên Trung Quốc, nơi tướng quân đóng 273 thực hiện chính trị của mình.
Nếu chúng ta nhìn bức bình phong mang tên Rakuchuu rakugaizu byôpu (Lạc trung lạc ngoại đồ bình phong) (Lạc có nghĩa là kinh đô như thành Lạc Dương bên Trung Quốc), một tác phẩm mỹ thuật gồm nhiều bức127, được vẽ ra trong khoảng thời Muromachi cho đến thời văn hóa Momoyama (Đào Sơn), ghi lại cảnh tượng bên trong và bên ngoài thành phố Kyôto, thì mới thấy nơi sinh hoạt của Yoshimitsu không xa đại nội nơi thiên hoàng sống bao nhiêu. Chẳng những thế, phủ đệ này lấy cảm hứng từ lối kiến trúc thời vương triều và qui mô của nó còn vượt hẳn chỗ ở của thiên hoàng. Sự kiện chính trị dưới thời Shôgun Ashikaga Yoshimitsu (1358-1408)128 Năm Sự kiện nổi bật 1368 Shôgun đời thứ 2 Yoshikakira mất, Yoshimitsu (11 tuổi) kế vị. Trên thực chất, chức kanrei (quản lãnh) là Hosokawa Yoriyuki nắm quyền.
1378 Yoshimitsu dời dinh về Hana no gosho (Hoa ngự sở) ở Muromachi 1379 Shôgun lật đổ, bãi chức của Hosokawa và thi hành chính sách độc tài. 1383 Mạc phủ giành được quyền thu các thuế ruộng và thuế nóc gia. 1385 Mạcphủ lại nắm quyền cảnh sát và thủ bị kinh đô Kyôto. 1390 Loạn do nội tình gia đình họ Toki ở Ise.
Thảo phạt Toki Yasuyuki. 1391 Loạn năm Meitoku ở San. Bị thảo phạt, Yamana Ujikiyo bại tử. 1391 Yoshimitsu thống nhất được hai triều đình Nam Bắc.
1393 Giành được quyền thu thuế kho hàng và quán rượu-tiệm cầm đồ. 1394 Yoshimitsu nhượng vị cho Yoshimochi (chức vụ mạc phủ), lên làm Daijôdaijin (chức vụ triều đình) để thực thi “công vũ hợp nhất” giữa công khanh và vũ gia. 1395 Yoshimitsu xuất gia, pháp danh Dôgi (Đạo Nghĩa). Bãi chức Thủ hiến Kyuushuu của Imagawa Ryôshun vì sợ thế lực ông này quá mạnh.
1399 Loạn năm Ôei ở vùng Nagato-Suô. Ôuchi Yoshihiro bại tử. 1400 Thảo phạt Imagawa Ryôshun. Ryôshun được cho về ở ẩn.
1401 Yoshimitsu gửi sứ sang nhà Minh ngoại giao 1402 Yoshimitsu nhận sắc phong chức Quốc vương Nhật Bản từ nhà Minh binh thường có hoa cỏ đẹp đẽ như Liễu doanh của Chu Á Phu đời Hán. 127 Loại bình phong mang đề tài này được nhiều họa sư khai thác vào cuối thời Muromachi. Sau được phát triển thành tranh cuộn (emaki) mô tả cuộc sống và phong tục chốn đế đô. 128 Nguồn Nihonshi Zuroku (trang 119) 274 1404 Bắt đầu mậu dịch kangô (khám hợp) với nhà Minh.
1406 Vợ Yoshimitsu là Hinoyasuko trở thành mẹ đỡ đầu Thiên hoàng 1408 Muốn tiếm vị, Yoshimitsu ngồi ngang vai với Thiên hoàng trong các buổi lễ.Tuy nhiên, sau khi Yoshimitsu chết, Yoshimochi phủ định sự nghiệp của cha. Điều đó chứng tỏ rằng trong thời đại Muromachi, giai đoạn Yoshimitsu giữ chức Shôgun, là lúc mà quyền uy của nhà chúa lên đến cực điểm. Bởi vì bản thân Yoshimitsu đã nắm chức quan trọng nhất trong triều đình là Daijôdaijin (Thái chính đại thần), một điều chỉ có quyền thần Taira no Kiyomori đạt được trước đó.Ngay sau khi Yoshimitsu xuất gia và nhượng lại chức Shôgun rồi, quyền uy của ông đối với mạc phủ lẫn triều đình vẫn còn nguyên vẹn. Nền văn hoá tỏa sáng trong giai đoạn này là văn hóa Kitayama (Bắc sơn).
Đó là tên một khu vực ở Kyôto nơi ông có phủ đệ lúc nghĩ hưu.Yoshimitsu đã dùng quyền lực đã được ổn định của mình làm hậu thuẫn cho việc phát triển mọi lãnh vực từ học vấn, tôn giáo cho đến nghệ thuật mới được hồi sinh trở lại. Có thể nói ông đã biết đóng vai trò của một người bảo vệ văn hóa đúng nghĩa. Nếu muốn tóm tắt đặc sắc của văn hóa Kitayama này trong một câu, ta có thể nói đó là một nền văn hóa qui tụ và điều hòa được cái hay cái đẹp của hai thứ văn hóa công khanh và vũ gia. Tượng trưng cho sự hòa hợp đó là ngôi gác dát vàng gọi là Kinkakuji (Kim Các Tự) dựng trong khuôn viên khu vực biệt thự của Yoshimitsu nằm ở khu Kitayama (Bắc sơn)129.
Qua cái gác dát vàng này, ta vừa thấy phong cách kiến trúc shindenzukuri (xây cất kiểu tẩm điện) có tính truyền thống mà xã hội công khanh đã phát triển tài bồi cho đến lúc ấy, lại vừa thấy phong cách Zenshuuyô (chùa Thiền) vốn được giới vũ sĩ yêu chuộng. Chính vì thế, Kinkakuji mới được ca tụng là kiến trúc tiêu biểu của thời kỳ văn hoá Kitayama. 129 Khu vực núi non phía bắc thành phố Kyôto gồm các ngọn Funaoka, Kasagara và Iwakura. Tuy mang tiếng là núi (yama) nhưng chính ra chỉ là một khu vực gồm nhiều quả đồi thấp (oka).
275 Kinkakuji, tượng trưng cho kiến trúc văn hóa Bắc Sơn (Kitayama) Bảng tóm lược về văn hoá Bắc Sơn (Kitayama) 130 (kéo dài từ cuối thế kỷ 14 sang đầu thế kỷ 15) Đặc điểm -Đã phát triển dưới thời Shôgun thứ 3 Ashikaga Yoshimitsu -Chủ yếu là văn hoá Thiền tông đã được áp dụng vào nhiều lãnh vực. -Thơ văn chữ Hán phát triển qua trứ tác, dịch thuật và xuất bản. -Nhờ thuyền buôn, tiếp thu văn hóa Trung Quốc nhà Minh. Kiến trúc Kim các của Lộc Uyển Tự (Rokuonji Kinkaku)131 với kiến trúc lối tẩm điện và mang màu sắc Thiền tông.
-Đông kim đường và Tháp năm tầng chùa Kôfukuji (Hưng Phúc Tự) xây lại năm 1425-1426 từ chùa cũ có từ năm 726-730 lại mang màu sắc Nhật Bản (Wayô = Hòa dạng). Viên đình Vườn của Rokuonji (Lộc Uyển Tự) Tôn giáo Hoàn thành chế độ Ngũ sơn thập sát ở Kyôto, Kamakura cũng như hệ thống chư sơn. Hội họa -Kanzan Jittoku zu (Hàn Sơn Thập Đắc đồ) của Shuubun (Chu Văn) -Hyônenzu (Biều niêm đồ) của Jôsetsu (Như Chuyết) ở Taizôin (Thoái Tàng Viện) thuộc Myôshinji (Diệu Tâm Tự). 130 Nguồn Nihonshi Zuroku (trang 128) 131 Sau khi nhượng vị cho con trai là Yoshimochi, Yoshimitsu về sống ở phủ đệ Kitayamadono (Bắc Sơn điện).
Nơi đây, vào năm 1398, ông cho dựng một gác vàng cao 13,6 m để chứa xá lợi (shariden). Sau khi Yoshimitsu chết, nhân vì ông được tặng pháp hiệu là Rokuonin (Lộc Uyển Viện) cho nên kim các đó được đổi tên thành Rokuonji (Lộc Uyển Tự). Kim các có 3 tầng: tầng thứ nhất là đình câu cá (điếu đình) nhìn xuống hồ nước, kiến trúc theo lối tẩm điện (shindendzukuri), tầng thứ hai đặt tượng Phật Quan Âm kiến trúc thuần Nhật (Wayô). Còn tầng ba Kugyôchô (Cứu cánh đính) lại theo kiến trúc Thiền tông với song và cánh cửa bằng ván.
Tất cả đều được dát vàng. Sau chiến tranh gác bị thiêu hủy vì hỏa tai, phải xây lại mới. Văn học -Văn học Gozan (Ngũ sơn) với các cao tăng kiêm văn nhân như Gidô Shuushin (Nghĩa Đường Chu Tín) và Zekkai Chuushin (Tuyệt Hải Trung Tân). -Ấn bản Gozan (kinh, truyện, thi ca) phổ biến.
Nghệ thuật -Sarugaku (Viên nhạc) trở thành Nôgaku (Năng nhạc) (Tuồng Nô phát triển nhờ 4 rạp lớn Yamato shiza: Kanzei, Hôshô, Konbaru và Kongô). -Tác phẩm lý luận Fuushikaden (Phong tư hoa truyền) của Zeami. Kim các của Rokuonji (Lộc Uyển Tự) đã được mọi người coi như chính Rokuonji bởi vì sau khi Shôgun tạ thế, một phần lớn kiến trúc trong quần thể gồm biệt thự và tự viện đã mai một. Cái gác vàng đương thời hãy còn tồn tại cho đến sau Đệ Nhị Thế Chiến nhưng vào năm 1950, nó đã bị thần hỏa thiêu rụi và được xây lại vào năm 1955.
Cũng vào dưới thời Yoshimitsu, ông đã xây một ngôi chùa dành để cúng tế vong linh (bodaiji = bồ đề tự) cho dòng họ Ashikaga của mình. Đó là Shôkokuji hay chùa Tướng quốc. Từ ấy về sau, nhiều chùa Thiền được xây lên theo chế độ kanji (quan tự ) tức chế độ “chùa nhà nước” mô phỏng cách thức Nam Tống. Chùa Thiền ở hai vùng Kamakura và Kyôto được gọi theo chế độ Gozan jissatsu hay “Ngũ sơn thập sát”132 bên Trung Quốc và tầm quan trọng của nó được qui định từ lớn đến nhỏ.
Nhìn lại những gì xảy ra vào lúc đó, ta mới thấy ảnh hưởng các chùa Thiền đến chính trị và văn hóa thời ấy thật vô cùng to tát. Trong số những ngôi chùa quan trọng, trước tiên phải kể đến Ngũ sơn, rồi sau mới tới Thập sát133. Ngũ sơn của vùng Kyôto: Nanzenji (Nam thiền tự) (đứng riêng và cao hơn cả), Tenryuuji (Thiên long tự), Shôkokuji (Tướng quốc tự), Kenninji (Kiến nhân tự), Tôfukuji (Đông phúc tự), Manjuji (Vạn thọ tự). Ngũ sơn của vùng Kamakura: Kenchôji (Kiến trường tự), Engakuji (Viên giác tự), Jufukuji (Thọ phúc tự), Jôchiji (Tịnh trí tự), Jômyôji (Tĩnh diệu tự).
132 Trong thuật ngữ nhà Phật, sơn và sát đều có nghĩa là chùa.