Giáo Trình Lịch Sử Các Học Thuyết Kinh Tế: Tìm Hiểu và Phân Tích

Khám phá giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế, từ những lý thuyết cơ bản đến các quan điểm hiện đại, giúp hiểu rõ nền tảng kinh tế.

Người đăng

Ẩn danh
126
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA MÔN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ

2. CHƯƠNG 2: CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế

Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế là một tài liệu quan trọng giúp sinh viên hiểu rõ về quá trình phát triển của các học thuyết kinh tế qua các thời kỳ lịch sử. Tài liệu này không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn giúp sinh viên áp dụng vào thực tiễn kinh tế hiện nay. Việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế giúp sinh viên nắm bắt được các trường phái kinh tế khác nhau và tác động của chúng đến nền kinh tế xã hội.

1.1. Đối tượng nghiên cứu của lịch sử các học thuyết kinh tế

Lịch sử các học thuyết kinh tế nghiên cứu các hệ thống quan điểm kinh tế của các giai cấp trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau. Đối tượng này bao gồm các học thuyết từ cổ đại đến hiện đại, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về sự phát triển của kinh tế học.

1.2. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế

Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế là cần thiết để sinh viên có thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Nó giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về các tác động của học thuyết kinh tế đến nền kinh tế hiện tại và tương lai.

II. Những thách thức trong việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế

Việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế gặp nhiều thách thức, bao gồm sự đa dạng của các trường phái kinh tế và sự thay đổi liên tục của các lý thuyết. Các sinh viên cần phải nắm vững kiến thức cơ bản và có khả năng phân tích để hiểu rõ các vấn đề phức tạp trong lĩnh vực này.

2.1. Sự đa dạng của các trường phái kinh tế

Mỗi trường phái kinh tế có những quan điểm và lý thuyết riêng, điều này tạo ra sự phong phú nhưng cũng gây khó khăn trong việc tiếp cận và hiểu biết. Sinh viên cần phải phân tích và so sánh các học thuyết để có cái nhìn tổng quát.

2.2. Sự thay đổi liên tục của lý thuyết kinh tế

Lý thuyết kinh tế không ngừng phát triển và thay đổi theo thời gian. Điều này đòi hỏi sinh viên phải cập nhật kiến thức thường xuyên để không bị lạc hậu trong nghiên cứu và ứng dụng.

III. Phương pháp nghiên cứu trong lịch sử các học thuyết kinh tế

Phương pháp nghiên cứu trong lịch sử các học thuyết kinh tế bao gồm nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc. Những phương pháp này giúp sinh viên có cái nhìn sâu sắc hơn về các học thuyết kinh tế và mối liên hệ của chúng với thực tiễn.

3.1. Phương pháp duy vật biện chứng

Phương pháp duy vật biện chứng yêu cầu sinh viên phải xuất phát từ thực tiễn khách quan để xem xét và giải thích các hiện tượng kinh tế. Điều này giúp sinh viên hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn.

3.2. Phương pháp lịch sử và lôgíc

Phương pháp lịch sử giúp sinh viên phân tích sự phát triển của các học thuyết theo thời gian, trong khi phương pháp lôgíc giúp tìm ra các quy luật chung chi phối sự phát triển của các học thuyết kinh tế.

IV. Ứng dụng thực tiễn của lịch sử các học thuyết kinh tế

Lịch sử các học thuyết kinh tế không chỉ là lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong việc hoạch định chính sách kinh tế. Các sinh viên có thể áp dụng kiến thức này vào các lĩnh vực như kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô, và quản lý kinh tế.

4.1. Hoạch định chính sách kinh tế

Kiến thức từ lịch sử các học thuyết kinh tế giúp các nhà hoạch định chính sách có cơ sở lý luận vững chắc để đưa ra các quyết định phù hợp với thực tiễn kinh tế.

4.2. Ứng dụng trong quản lý kinh tế

Các học thuyết kinh tế cung cấp các công cụ và phương pháp hữu ích cho việc quản lý và điều hành các hoạt động kinh tế, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh.

V. Kết luận về tương lai của lịch sử các học thuyết kinh tế

Lịch sử các học thuyết kinh tế sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu và phát triển các lý thuyết kinh tế mới. Việc hiểu rõ lịch sử sẽ giúp sinh viên và các nhà nghiên cứu có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề kinh tế hiện tại và tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu liên tục

Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế cần được thực hiện liên tục để cập nhật các lý thuyết mới và ứng dụng vào thực tiễn. Điều này giúp sinh viên luôn nắm bắt được xu hướng phát triển của kinh tế thế giới.

5.2. Hướng phát triển của các học thuyết kinh tế

Các học thuyết kinh tế sẽ tiếp tục phát triển và thích ứng với những thay đổi trong xã hội và nền kinh tế. Việc nghiên cứu lịch sử sẽ giúp sinh viên có cái nhìn tổng quát và sâu sắc hơn về các xu hướng này.

10/07/2025
Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề nghiên cứu lao động phức tạp và lao động giản đơn nhưng không thành. Petty là người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết giá trị - lao động. Ông đã khẳng định lao động là cơ sở của giá cả tự nhiên, lao động sản xuất giữ vai trò chủ yếu trong việc tạo ra của cải cho xã hội. Ông đã đưa ra một 18 nguyên lý nổi tiếng: “lao động là cha, còn đất đai là mẹ của mọi của cải ".

Tuy vậy, lý thuyết giá trị - lao động của W. Petty còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng chủ nghĩa trọng thương. Ông chỉ thừa nhận lao động khai thác bạc là nguồn gốc của giá trị, còn giá trị của các hàng hoá khác chỉ được xác định nhờ quá trình trao đổi với bạc. Theo ông giá trị của hàng hoá chính là sự phản ánh giá trị của tiền tệ cũng như ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu của ánh sáng mặt trời.

Hơn nữa ông còn mắc sai lầm là đã xác định giá trị của hàng hoá do hai yếu tố: lao động và đất đai tạo thành. Lý thuyết tiền tệ Quan điểm về tiền tệ của W. Petty chuyển dần từ chủ nghĩa trọng thương sang quan điểm của trường phái cổ điển. Ông đã phê phán lý luận của chủ nghĩa trọng thương về tiền tệ.

Ông nói rằng: tiền tệ không phải lúc nào cũng là tiêu chuẩn của sự giàu có, nếu đánh giá quá cao tiền tệ là sai lầm; tiền tệ chỉ là một phần trăm của sự giàu có, chỉ là công cụ của lưu thông hàng hoá, vì thế không cần phải tăng số lượng tiền tệ quá mức cần thiết. Ông nghiên cứu hai thứ kim loại giữ vai trò của tiền là vàng và bạc, xác định giá trị của chúng là do lao động bỏ vào việc khai thác ra chúng quyết định. Ông phê phán chế độ song bản vị lấy vàng và bạc làm đơn vị tiền tệ và ủng hộ chế độ đơn bản vị. Ông phê phán lại việc phát hành tiền không đủ giá và cho rằng làm như vậy nhà nước không có lợi gì vì khi đó giá trị tiền tệ đã giảm xuống.

Ông là người đầu tiên đưa ra quy luật lưu thông tiền tệ mà nội dung của nó là số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông được xác định trên cơ sở số lượng hàng hoá và tốc độ chu chuyển của tiền tệ, ông còn chi ra sự ảnh hưởng của thời gian thanh toán với số lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông: thời hạn thanh toán càng ngắn thì số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông càng nhiều. Lý thuyết thu nhập và giá cả ruộng đất - Lý thuyết tiền lương của W. Petty được xây dựng trên cơ sở lý thuyết giá trị - lao động. Ông coi lao động là hàng hoá và tiền lương là giá cả tự nhiên của lao động.

Petty xác định tiền lương là khoản giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết nuôi sống người công nhân. Ông cho rằng nếu tiền lương cao thì công nhân thích uống rượu, hay bỏ việc; muốn cho công nhân làm việc phải tìm cách hạ thấp tiền lương tới mức tối thiểu nhất. Như vậy, ông là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý thuyết “quy luật sắt về tiền lương”. 19 Như vậy, quan niệm của W.

Petty về tiền lương phản ánh trình độ phát triển ban đầu của CNTB. Lúc này sản xuất máy móc chưa phát triển nên chưa tạo ra được sự phụ thuộc hoàn toàn của lao động vào tư bản, giai cấp tư sản phải dựa vào nhà nước để duy trì mức lương thấp. Petty còn phân tích mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa tiền lương và giá cả lúa mỳ. Ông cho rằng tiền lương tỷ lệ nghịch với giá cả lúa mỳ (giá trị tư liệu sinh hoạt).

Mặc dù còn có sai lầm nhưng Petty đã nêu được cơ sở khoa học của tiền lương là giá trị của các tư liệu sinh hoạt. - Lý thuyết địa tô: W. Petty coi địa tô là phần chênh lệch giữa giá trị nông phẩm và chi phí sản xuất, mà chi phí này gồm chi phí về giống và tiền lương. Về thực chất, địa tô là giá trị dôi ra ngoài tiền lương, tức là sản phẩm của lao động thặng dư.

Ông nghiên cứu chi tiết địa tô chênh lệch và chỉ ra là, các mảnh ruộng xa gần khác nhau mang lại thu nhập khác nhau. Tuy nhiên, ông chưa nghiên cứu địa tô tuyệt đối. Khi phân tích về địa tô ông không trực tiếp nói đến sự bóc lột nhưng ông nói rằng: người công nhân chỉ nhận được một số lượng tiền lương tối thiểu, phần còn lại là vốn và số chênh lệch vào túi địa chủ dưới hình thức địa tô thì chứng tỏ ông thừa nhận nguồn gốc của địa tô là do bóc lột. Petty là người đầu tiên đã nêu ra mầm mống của lý luận về chế độ bóc lột và đã dự đoán đúng đắn bản chất của giá trị thặng dư.

Petty phân tích lợi tức gắn liền với địa tô. Theo ông, nếu có tiền có thể mang lại thu nhập bằng hai cách. Thứ nhất, là dùng tiền mua đất đai để thu địa tô. Thứ hai, là mang gửi vào ngân hàng để thu lợi tức.

Petty coi lợi tức là tô của tiền, nó lệ thuộc vào mức địa tô (mà người ta có thể dùng tiền đó để mua đất), cũng có nghĩa là mức lợi tức cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện sản xuất nông nghiệp. - Vấn đề giá cả ruộng đất là một vấn đề nhức tạp, W. Petty đã cố gắng dùng lý luận giá trị - lao động để giải thích vấn đề này. Ồng cho rằng bán ruộng đất là bán quyền nhận địa tô.

Vì vậy giá cả ruộng đất là do địa tô quyết định. Ông đưa ra công thức tính giá cả ruộng đất là: Giá cả ruộng đất = địa tô x 20. Con số 20 là ông dựa vào kinh nghiệm thống kê để xác định. Ông giả định rằng một gia đình có 3 thế hệ: con 7 tuổi, cha 27 tuổi, ông 47 tuổi.

Họ cách nhau 20 tuổi và còn có thể chung sống với nhau 20 năm nữa, do đó ông đã lấy số 20 để tính giá cả ruộng đất. Đây là điều không đúng. Tóm lại, mặc dù quan điểm của W. Petty còn chưa thống nhất, đang chuyển 20 dần từ chủ nghĩa trọng thương sang KTCTTSCĐ nhưng ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho khoa học kinh tế.

Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho lý luận giá trị - lao động, đã cố gắng dùng lý luận giá trị - lao động để xem xét các vấn đề k i n h tế khác của xã hội TBÊN. NỘI DUNG ÔN TẬP 1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời, đặc điểm của KTCTTSCĐ. Những đóng góp tích cực và những hạn chế của W.Petty trong lý luận giá trị lao động.

Sự vận dụng lý luận giá trị - lao động để giải thích nguồn gốc của các nguồn thu nhập (tiền lương, địa tô, lợi tức) của W. Chủ nghĩa trọng nông 1. Sự xuất hiện chủ nghĩa trọng nông ở Pháp Ở Pháp, KTCT TSCĐ xuất hiện dưới tên gọi: Chủ nghĩa trọng nông. Chủ nghĩa trọng nông (CNTN) xuất hiện vào giữa thế kỷ XVIII từ nền kinh tế đặc biệt của Pháp lúc bấy giờ là sự đình đốn của kinh tế nông nghiệp.

Sự thống trị hà khắc của chế độ chiếm hữu phong kiến về ruộng đất với mức độ bóc lột cao. Địa tô phong kiến chiếm từ 1/4 đến 1/3 số nông phẩm sản xuất ra, ngoài ra nông dân còn phải chịu nhiều thứ thuế khác. Nông nghiệp còn bị thiệt hại nặng nề do chính sách trọng thương của bộ trưởng tài chính Colbert như: hạ giá ngũ cốc, thực hiện các biện pháp cướp bóc nông nghiệp để phát triển công nghiệp, “ăn đói để xuất khẩu”. Tình hình trên đã làm cho nông nghiệp sa sút, đời sống của nông dân Pháp túng quẫn, nạn đói kéo dài nên nhà thư Volte đã mỉa mai rằng “ Nông dân bàn tán về lúa mỳ nhiều hơn là về thượng đế”.

Để chống lại tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương, tìm đường giải phóng kinh tế nông dân khỏi quan hệ sản xuất phong kiến, phát triển nông nghiệp theo kiểu TBÊN trường phái trọng nông đã xuất hiện. Đặc điểm chung cả trường phái trọng nông là đã chuyển đối tượng nghiên cứu của Kinh tế chính trị sang lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. CNTN đánh giá cao vai trò của ngành nông nghiệp, vì họ cho rằng: xã hội loài người phát triển theo quy luật tự nhiên, nguồn gốc duy nhất của của cải là tự nhiên là nông nghiệp. Chỉ có lao động nông nghiệp mới là lao động có ích, lao động sinh lời, vì nó tạo ra sản phẩm thuần tuý cho xã hội, nên muốn giàu có phải phát triển 21 nông nghiệp.

Người đầu tiên đặt nền tảng cho học thuyết kinh tế trọng nông ở Pháp là Pierr Boisguillchert (1646 - 1714). Sau đó, đại biểu xuất sắc của phái này là Fransois Quesnay (1694 - 1774) và Anne Bobert Jacques Turgol (1727 - 1771) -một bộ trưởng tài chính Pháp. Đặc biệt, với F.Quesnay, chủ nghĩa trọng nông đạt tới một sự phát triển rực rỡ nhất.Quesnay sinh năm 1694 ở gần Versaille, là con thứ tám trong số mười ba người con của một gia đình nông đân - buôn bán nhỏ, bẩm sinh thông minh. Năm 17 tuổi ông thực hành nghề y trong bệnh viện Pari, vừa kiếm tiền trong xưởng thủ công chạm khắc.

Sáu năm sau ông được nhận bằng bác sỹ chuyên nghành giải phẫu và bắt đầu hành nghề. Ông trở thành bác sỹ giỏi, được nhiều người danh tiếng mời làm bác sỹ riêng. Năm 1752, ông trở thành bác sỹ riêng của nhà vua và trở thành cố vấn thân cận của vua Luidovic thứ 15. Khi cuộc sống vật chất trở nên sung túc, ông bắt đầu quan tâm đến vấn đề triết học và kinh tế.

Ông cũng đóng góp một phần vào việc soạn thảo cuốn bách khoa thư đầu tiên của nước Pháp. Ông đến với kinh tế học rất muộn, ở tuổi 60 nhưng lại rất nhanh chóng nổi danh. Công trình nghiên cứu về thực hiện tổng sản phẩm xã hội của ông - thường gọi là Biểu kinh tế đã đưa tên tuổi ông vào hàng những tác giả cổ điển nổi tiếng nhất của học thuyết kinh tế 2. Một số học thuyết cơ bản của chủ nghĩa trọng nông 2.

Lý thuyết trật tự tự nhiên CNTN đã dùng học thuyết về luật tự nhiên để rút ra những kết luận trong kinh tế.Quesnay có 2 loại quy luật tự nhiên: quy luật vật lý tác động trong lĩnh vực tự nhiên và quy luật luân lý tác động trong lĩnh vực kinh tế xã hội. Quy luật luân lý cũng tất yếu như quy luật vật lý vậy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ