CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC Mã chương: MH08 – 01 Giới thiệu: Đây là chương giới thiệu chung về nền kinh tế Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm, phân loại, phương pháp nghiên cứu kinh tế học và lý thuyết lựa chọn kinh tế tối ưu. - Thực hiện được các bài tập tình huống, phân biệt chính xác kinh tế vi mô và vĩ mô. - Nghiêm túc, chủ động, tích cực trong quá trình nghiên cứu, học tập Nội dung chính: 1.NỀN KINH TẾ Nền kinh tế là một nhóm người tác động qua lại với nhau trong quá trình sinh tồn của họ, hoạt động của nền kinh tế phản ánh hành vi của các cá nhân tạo thành nền kinh tế.Các chủ thể nền kinh tế Để hiểu được nền kinh tế vận hành như thế nào, chúng ta hãy xem xét các chủ thể của nền kinh tế và sự tương tác lẫn nhau giữa các thành phần này. Trong nền kinh tế giản đơn, các chủ thể của nền kinh tế bao gồm: hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ.
Hộ gia đình bao gồm một nhóm người chung sống với nhau như một đơn vị ra quyết định. Một hộ gia đình có thể gồm một người, nhiều gia đình, hoặc nhóm người không có quan hệ nhưng chung sống với nhau. Chẳng hạn, hai sinh viên cùng thuê trọ một phòng. Hộ gia đình là nguồn cung cấp lao động, tài nguyên, vốn và quản lý để nhận các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền lãi và lợi nhuận.
Hộ gia đình cũng đồng thời là người tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ. Doanh nghiệp là tổ chức kinh doanh sở hữu và điều hành các đơn vị kinh doanh của nó. Đơn vị kinh doanh là một cơ sở trực thuộc dưới hình thức nhà máy, nông trại, nhà bán buôn, bán lẻ hay nhà kho mà nó thực hiện một hoặc nhiều chức năng trong việc sản xuất và phân phối sản phẩm hay dịch vụ. Một doanh nghiệp có thể chỉ có một đơn vị kinh doanh, hoặc cũng có thể gồm nhiều đơn vị kinh doanh.
Trong khi đó, một ngành gồm một nhóm các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm giống hoặc tương tự nhau. Chính phủ là một tổ chức gồm nhiều cấp, ban hành các luật, qui định và vận hành nền kinh tế theo một cơ chế dựa trên luật. Chính phủ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công cộng như: an ninh quốc phòng, dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giao thông, giáo dục. Bằng cách thay đổi và điều chỉnh luật, qui định, thuế.
Chính phủ có thể tác động đến sự lựa chọn của các hộ gia đình và doanh nghiệp.Các yếu tố sản xuất Để tạo ra sản phẩm và dịch vụ, các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực như: nhà máy, thiết bị văn phòng, phương tiện vận tải, mặt bằng kinh doanh và các nguồn lực khác. Các nhà kinh tế phân chia nguồn lực thành các nhóm: - Tài nguyên là nguồn lực thiên nhiên, “quà tặng của thiên nhiên”, tham gia vào quá trình sản xuất, bao gồm: đất trồng trọt, tài nguyên rừng, quặng mỏ, nước,. - Vốn hay còn gọi là đầu tư, nhằm hỗ trợ cho quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm. Chẳng hạn, công cụ máy móc, thiết bị, phân xưởng, nhà kho, phương tiện vận tải,.
vốn ở đây không phải là tiền, bản thân tiền thì không tạo ra cái gì cả trừ khi tiền được dùng để mua sắm máy móc, thiết bị và các tiện ích phục vụ cho sản xuất thì mới trở thành vốn. 11 - Lao động chỉ năng lực về trí tuệ và thể lực tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Chẳng hạn, lao động tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, bán hàng. - Quản lý là khả năng điều hành doanh nghiệp.
Người quản lý thực hiện các cải tiến trong việc kết hợp các nguồn lực tài nguyên, vốn, lao động để tạo ra hàng hóa và dịch vụ; đưa ra các quyết định về chính sách kinh doanh; đổi mới sản phẩm, kỹ thuật, cải cách quản lý; người quản lý gắn trách nhiệm với các quyết định và chính sách kinh doanh. Vì vậy, người quản lý cũng là người chịu rủi ro.Ba vấn đề kinh tế cơ bản Thực tế phát triển kinh tế ở các nước trên thế giới và Việt Nam đã cho thấy muốn phát triển một doanh nghiệp đều phải giải quyết ba vấn đề cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Sản xuất cái gì? Trong khả năng hiện có, nền kinh tế phải lựa chọn để sản xuất một số loại hàng hoá nhất định. Việc lựa chọn loại hàng hoá, dịch vụ gì nên được ưu tiên sản xuất sẽ được căn cứ vào nhiều yếu tố, ví dụ như : cầu của thị trường, khả năng về các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh, giá cả trên thị trường. Giá cả thị trường là thông tin có ý nghĩa quyết định đối với việc lựa chọn sản xuất và cung ứng những hàng hoá nào có lợi nhất cho cả cung và cầu trên thị trường.
Giá cả trên thị trường là bàn tay vô hình điều chỉnh quan hệ cung cầu và giúp chúng ta lựa chọn và quyết định sản xuất. Sản xuất như thế nào? Sau khi quyết định được loại hàng hoá, dịch vụ gì nên được sản xuất, nền kinh tế phải trả lời câu hỏi quan trọng thứ hai là “sản xuất như thế nào?” tức là tìm ra phương pháp, công nghệ thích hợp cho sản xuất, và sự kết hợp hợp lý và hiệu quả giữa các nguồn lực đầu vào để sản xuất ra hàng hoá đã được lựa chọn. Đồng thời giải quyết vấn đề “sản xuất như thế nào?” cũng chính là tìm câu trả lời cho những câu hỏi sau: hàng hoá đó nên sản xuất ở đâu? sản xuất bao nhiêu? khi naò sản xuất và cung cấp? Sản xuất cho ai? Sau khi xác định được loại hàng hoá, dịch vụ nào nên được sản xuất và cách thức sản xuất các loại sản phẩm đó, nền kinh tế còn phải giải quyết vấn đề cơ bản thứ ba là “sản xuất cho ai?” câu hỏi này liên quan đến phân phối thu nhập từ các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được sản xuất ra. Trên thị trường tự do cạnh tranh thì sản phẩm sẽ thuộc về những người có đủ khả năng thanh toán cho việc mua sản phẩm.
Tuy nhiên, vấn đề này sẻ được các chính phủ xem xét và can thiệp thông qua các chính sách điều tiết về thuế, giá và trợ cấp, nhằm đảm bảo cho cả những người nghèo, khó khăn có thu nhập thấp cũng được hưởng những thành quả từ nguồn lực của xã hội.Mô hình kinh tế Dựa vào cách thức giải quyết ba vấn đề cơ bản nói trên của kinh tế học, các quốc gia trên thế giới đang áp dụng ba mô hình kinh tế chủ yếu, đó là mô hình kinh tế thị trường tự do, mô hình kinh tế mệnh lệnh (hay kế hoạch hóa tập trung), và mô hình kinh tế hỗn hợp. Kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó các quyết định của các cá nhân về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định của các doanh nghiệp về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và các quyết định của người công nhân về việc làm cho ai đều được thực hiện dưới sự tác động của giá cả thị trường. Thị trường mà nhà nước không can thiệp vào gọi là thị trường tự do hoàn toàn. Kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Kinh tế kế hoạch hóa tập trung là nền kinh tế mà trong đó chính phủ đưa ra mọi quyết định về sản xuất và phân phối.
Cơ quan kế hoạch của chính phủ quyết định sẽ sản xuất ra cái gì, sản xuất như thế nào, và phân phối 12 cho ai. Sau đó, các hướng dẫn cụ thể sẽ được phổ biến tới các hộ gia đình và các doanh nghiệp. Thí dụ, ở Liên Xô cũ, cơ quan kế hoạch nhà nước hoạch định kế hoạch cho tất cả các vấn đề kinh tế của đất nước. Kinh tế hỗn hợp: Kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế mà trong đó chính phủ vận hành nền kinh tế theo tín hiệu thị trường.
Trong nền kinh tế hỗn hợp, chính phủ có thể hạn chế được những khiếm khuyết cũng như phát huy những ưu điểm của nền kinh tế kế họach hóa tập trung và nền kinh tế thị trường. Do những tính ưu việt đó mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng mô hình kinh tế hỗn hợp. Tùy theo mức độ chính phủ can thiệp vào nền kinh tế mà một nền kinh tế có thể lệch về hướng thị trường hay kế hoạch tập trung.Sơ đồ hoạt động của nền kinh tế 2. KINH TẾ HỌC 2.Khái niệm Đã có nhều khái niệm về kinh tế học nhưng với nội dung hiện nay của môn học ta có thể chấp nhận một khái niệm sau: Kinh tế học là một môn khoa học nghiên cứu những lựa chọn của cá nhân và xã hội về cách thức sử dụng các nguồn tài nguyên có giới hạn.
Mục đích của việc lựa chọn là để thõa mãn cao nhất nhu cầu trong hiện tại và tương lai của cá nhân và xã hội. Những lựa chọn của cá nhân và xã hội được biểu hiện thành những hiện tượng và những hoạt động kinh tế. Kinh tế học nghiên cứu các hiện tượng này dưới hai gốc độ: Một là góc độ bộ phận như hộ gia đình, một doanh nghiệp, một thị trường… hình thành nên môn kinh tế vi mô. Hai là góc độ của toàn bộ nền kinh tế dẫn đến việc hình thành nên môn kinh tế vĩ mô.Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô 2.
Kinh tế vĩ mô Kinh tế vĩ mô là một môn khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các vấn đề kinh tế tổng thể của toàn bộ nền kinh tế_ của “ một bức tranh lớn” về 13 tổng sản phẩm quốc dân, công ăn việc làm, lạm phát, tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân… 2. Kinh tế vi mô Kinh tế vi mô là một môn khoa học nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các vấn đề kinh tế cụ thể của các tế bào kinh tế trong một nền kinh tế. Đó là một môn khoa học nghiên cứu các hành vi của từng cá nhân, từng doanh nghiệp như người tiêu dùng, người sản xuất, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp…cũng như sự tương tác giữa họ trên thị trường cụ thể. Nó giải thích tại sao các đơn vị và các cá nhân lại đưa ra các quyết định về kinh tế và họ làm như thế nào để có các quyết định đó.
Ví dụ : tại sao gia đình thích xe máy hơn xe đạp?