Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ Mã chương: 3501 Mục tiêu: - Trình bày được những vấn đề khái quát về kinh tế quốc tế; - Nêu lên được đặc điểm của nền kinh tế thế giới; - Trình bày được cở sở hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế; - Phân tích được các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta đối với lĩnh vực kinh tế đối ngoại; - Trình bày được các điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam. - Nghiêm túc trung nghiên cứu. Giới thiệu khái quát về môn học kinh tế quốc tế 1. Khái niệm và vị trí môn học Kinh tế quốc tế hay còn gọi là kinh tế học quốc tế nghiên cứu mối quan hệ kinh tế giữa nền kinh tế của các nước và các khu vực trên thế giới.
Kinh tế quốc tế là một bộ phận của kinh tế học, nó ra đời do sự phát triển của đời sống xã hội và trở thành một môn khoa học độc lập. Kinh tế quốc tế nghiên cứu những vấn đề về phân phối và sử dụng các nguồn lực, tài nguyên giữa nền kinh tế của các nước, các khu vực thông qua con đường mậu dịch hợp tác với nhau nhằm đạt được hiệu quả cao về sự cân đối cung cầu hàng hóa, dịch vụ tiền tệ trong mỗi nước và trên phạm vi thế giới. Kinh tế quốc tế là môn khoa học cần thiết đối với tất cả những ai nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế nói chung đặc biệt là lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Đối với sinh viên kinh tế cần phải trang bị những kiến thức về cơ sở lý luận và thực tiễn của môn học kinh tế quốc tế giữa các quốc gia đang diễn ra như thế nào? Ảnh hưởng của nó đến lĩnh vực sản xuất kinh doanh ra sao? Từ đó có những giải pháp tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác của mình.
Đối tượng, nhiệm vụ môn học: Đối tượng nghiên cứu của kinh tế quốc tế chính là nền kinh tế thế giới. Kinh tế quốc tế nghiên cứu mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các quốc gia trong trạng thái động, tức là nghiên cứu sự vận động 8 của hàng hóa dịch vụ, các yếu tố sản xuất, sự chuyển đổi tiền tệ và thanh toán quốc tế giữa các nước thông qua con đường mậu dịch, đầu tư, chuyển giao công nghệ, liên kết. Việc nghiên cứu mối quan hệ phụ thuộc trên còn cần phải xem xét tới những ảnh hưởng của các mối quan hệ về chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao. Bởi vì tất cả các mối quan hệ đó nằm trong một chỉnh thể thống nhất có mối liên hệ phụ thuộc tác động lẫn nhau.
Nghiên cứu kinh tế quốc tế nhằm giải quyết các nhiệm vụ sau: - Cung cấp những kiến thức khái quát về một nền kinh tế hiện đại. - Cung cấp những kiến thức cơ bản về thương mại quốc tế và những chính sách ảnh hưởng đến nó. - Cung cấp những kiến thức cơ bản về sự di chuyển quốc tế các nguồn lực. - Cung cấp những kiến thức cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc tế nhằm thấy được sự vận động của thị trường tài chính – tiền tệ các nước.
Nội dung, phương pháp nghiên cứu môn học: Kinh tế quốc tế nghiên cứu những nội dung cơ bản sau: - Những vấn đề chung về kinh tế quốc tế - Thương mại quốc tế và chính sách thương mại quốc tế - Đầu tư quốc tế - Cán cân thị trường và thị trường tiền tệ quốc tế - Liên kết và hội nhập kinh tế quốc tế Kinh tế quốc tế sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phương pháp mô hình hóa… 1. Mối liên hệ giữa môn học với các môn học khác: Kinh tế quốc tế là một bộ phận của kinh tế học nên có mối quan hệ khá chặt chẽ với các bộ môn thuộc khoa học này như Kinh tế vi mô, Kinh tế vĩ mô, Kinh tế phát triển… để phân tích các mối quan hệ kinh tế giữa các nước về việc trao đổi mậu dịch, chuyển giao công nghệ, đầu tư, trao đổi tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế… 2. Những đặc điểm của nền kinh tế thế giới: 2. Khái niệm về kinh tế thế giới: Kinh tế thế giới là tổng thể nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên trái đất có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau thông qua sự phân công lao động quốc tế cùng với các quan hệ kinh tế quốc tế của chúng.
Hiện nay, nền kinh tế thế giới là một thực thể kinh tế đặc thù, duy nhất, có cơ cấu nhiều tầng nấc, nhiều cấp độ quan hệ với những phạm vi hoạt động khác nhau. Theo cách tiếp cận hệ thống, nền kinh tế thế giới bao gồm hai bộ phận cơ bản sau đây: 9 - Các chủ thể kinh tế quốc tế: là những tổ chức, cá nhân đại diện trong nền kinh thế thế giới và là nơi phát sinh ra các quan hệ kinh tế quốc tế. Sự tách biệt về sở hữu và địa vị pháp lý trong các quan hệ kinh tế quốc tế là cơ sở hình thành các chủ thể kinh tế độc lập với các cấp độ như sau: + Các nền kinh tế quốc gia độc lập trên thế giới (kể cả các vùng lãnh thổ) Với khoảng trên 170 quốc gia và trên 30 vùng lãnh thổ tham gia vào nền kinh tế thế giới. Các chủ thể này là các chủ thể đầy đủ xét về các mặt chính trị, kinh tế, pháp luật và quan hệ giữa các chủ thể này được đảm bảo bằng các hiệp định quốc tế ký kết theo những điều khoản của công pháp quốc tế.
+ Các chủ thể kinh tế ở cấp độ quốc gia: Là những công ty, tập đoàn, đơn vị kinh doanh… tham gia vào nền kinh tế thế giới thường là ở mức độ thấp và phạm vi hẹp cả về khối lượng buôn bán và đầu tư cũng như số lượng các chi nhánh hoạt động ở nước ngoài. Đây là những chủ thể không đầy đủ về mặt chính trị và pháp luật, các chủ thể này tham gia vào các hoạt động kinh tế quốc tế bằng các hợp đồng thương mại hoặc đầu tư được thoả thuận giữa các bên trong khuôn khổ các hiệp định đã ký kết giữa các chủ thể Nhà nước. + Các chủ thể kinh tế ở cấp độ quốc tế: Là những thiết chế quốc tế, các tổ chức quốc tế hoạt động với tư cách là những thực thể độc lập, có địa vị pháp lý rộng hơn địa vị pháp lý của chủ thể quốc gia, VD: IMF; UN; … + Ngoài ra còn có 1 loại chủ thể đặc biệt là công ty đa quốc gia, các công ty xuyên quốc gia và công ty siêu quốc gia. - Các khách thể của nền kinh tế thế giới: Đây là chính là các quan hệ kinh tế quốc tế, bộ phận cốt lõi của nền kinh tế thế giới, chúng là kết quả tất yếu của sự tác động qua lại giữa các chủ thể kinh tế quốc tế ở trên.
Căn cứ vào đối tượng vận động, các quan hệ kinh tế quốc tế chia thành: + Các quan hệ về di chuyển quốc tế hàng hoá và dịch vụ. Đó chính là việc mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia và được gọi là hoạt động thương mại quốc tế. + Các quan hệ về di chuyển quốc tế vốn tư bản. Đây là việc đưa vốn đầu tư từ nước này sang nước khác và được gọi là hoạt động đầu tư quốc tế.
+ Các quan hệ về di chuyển quốc tế sức lao động. Đó chính là hoạt động xuất nhập khẩu sức lao động. + Các quan hệ về di chuyển quốc tế các phương tiện tiền tệ. Đó là việc di chuyển các loại tiền mặt, kim khí quý, các giấy tờ có giá trị, … nhằm phục vụ cho hoạt động lưu thông tiền tệ, hoạt động tín dụng, hoạt động thanh toán, hoạt động đầu tư, … + Ngoài ra hiện nay quan hệ kinh tế quốc tế còn bao gồm cả các quan hệ hợp tác và trao đổi quốc tế về khoa học công nghệ và những hoạt động kinh tế 10 quốc tế khác.
Vậy quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các quan hệ về vật chất và tài chính, các quan hệ diễn ra trong lĩnh vực kinh tế và trong lĩnh vực khoa học công nghệ có liên quan đến tất cả các giai đoạn của quá trình tái sản xuất giữa các chủ thể kinh tế quốc tế với nhau. Xu thế quốc tế hóa nền kinh tế thế giới: Quá trình quốc tế hóa diễn ra với quy mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế thế giới: trong sản xuất, thương mại, đầu tư… cả vă hóa và lối sống. Thông qua các hoạt động trên các nước xích lại gần nhau hơn, gắn bó hơn, làm cho nền kinh tế thế giới trở thành một chỉnh thể thống nhất. Sự biến động ở bất cứ nước nào cũng có thể kéo theo biến động ở quốc gia khác.
Đặc điểm này đặt ra một yêu cầu tất yếu là mỗi quốc gia phải mở cửa thị trường ra thị trường thế giới và chủ động tham gia vào phân công lao động quốc tế, tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực để có một khuôn khổ phù hợp cho sự phát triển.Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới có xu hướng tăng chậm và không đồng đều nhau giữa các nước và các khu vực. Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia, giữa các nhóm nước và giữa các thời kỳ. Sau những năm trì trệ đầu thập kỷ 90, kinh tế thế giới tăng trưởng khá cao trong hai năm 1995- 1996 (3,8%) song lại bị suy giảm nhẹ năm 1997 (3,5%) và tiếp tục tăng trưởng không đều ở những năm tiếp theo. Nền kinh tế các nước công nghiệp phát triển trong nhóm G7 được phục hồi, riêng kinh tế Nhật bản đang đứng trước những vấn đề nan giải, và đòi hỏi phải có những cải cách đáng kể nếu như nó muốn trở lại tăng trưởng với tốc độ cao.
Kinh tế các nước đang phát triển, đặc biệt các nước mới công nghiệp hóa (NICs) vẫn đạt mức tăng trưởng khá cao đặc biệt là Trung Quốc đạt tốc độ rất cao (9%). Các nước ASEAN do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ nên tốc độ tăng trưởng chậm lại, gần đây đã bước sang giai đoạn phục hồi.