MỞ ĐẦU CÁC NƢỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ SỰ LỰA CHỌN CON ĐƢỜNG PHÁT TRIỂN Mã bài: MH 18 – 01 Giới thiệu: -Chương này giới thiệu cho người học về trình độ phát triển của các nước đang phát triển và sự lựa chọn con đường phát triển. -So sánh mức độ phát triển của các nước công nghiệp phát triển, mới và đang phát triển. Mục tiêu: -Phân biệt được các nước theo trình độ phát triển. Tóm tắt những đặc trưng chung của các nước đang phát triển.
Giải thích được sự cần thiết phải lựa chọn con đường phát triển. -Thu thập các chỉ tiêu để so sánh mức độ phát triển của nhóm các nước công nghiệp đang phát triển, các nước công nghiệp mới, các nước xuất khẩu dầu mỏ và các nước đang phát triển. - Nghiêm túc trong nghiên cứu bài; Nội dung của bài: 1.Sự phân chia các nƣớc theo trình độ phát triển 1.Sự xuất hiện của thế giới thứ ba Cho tới năm 1945, nhiều quốc gia Tây âu, nhất là các nước Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Bồ Đào Nha vẫn còn kiểm soát những thuộc địa rộng lớn. Sau chiến tranh thế giới thứ 2 Các dân tộc bị thực dân cai trị đả không còn cam chịu sự đô hộ nửa.
Đầu tiên, làn sóng giải phóng thuộc địa bùng nổ mạnh mẽ ở châu Á. Năm 1947 Gandhi đã lãnh đạo thành công cuộc đấu tranh của nhân dân Ấn Độ giành độc lập từ tay người Anh. Ở vùng đông Nam Á, Indonesia giành độc lập năm 1947 sau cuộc đấu tranh vũ trang chống lại thực dân Hà Lan. Sau thất bại Điện biên phủ ở Việt Nam, thực dân pháp phải rút khỏi Đông dương.
Sau Châu Á, cao trào giải phóng thuộc địa lan sang Châu Phi. Năm 1954 Các lực lượng đấu tranh đòi độc lập cho Angeria chuyển sang đấu tranh vũ trang, đến năm 1962 Pháp phải ký hiệp định công nhận quyền độc lập của nước này. Tiếp đó tất cả các nước là thuộc địa của Pháp ở Châu Phi đều lần lượt được trao trả độc lập, cùng theo đó là Công gô (thuộc Bỉ), Nigeri thuộc Anh), Angola và Mozambique (thuộc Bồ Đào Nha). Với việc giải phóng thuộc địa, một nhân tố mới đã xuất hiện trên sân khấu chính trị quốc tế: “Thế giới thứ ba”.
“Thế giới thứ ba” được gọi để phân biệt với “Thế giới thứ nhất” có nền kinh tế phát triển – đi theo con đường tư bản chủ nghĩa những nước này phần lớn ở Tây Âu nên còn gọi là các quốc gia phía tây. “Thế giới thứ hai” là các 13 nước có nền kinh tế tương đối phát triển đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, những nước này tập trung ở Đông Âu nên còn gọi là các quốc gia phía Đông. Để tránh rơi vào khối này hoặc khối khác, nhiều quốc gia thuộc thế giới thứ ba đã tìm cách liên kết lại với nhau, phủ nhận việc phân chia thế giới thành Đông-tây. Tháng 4 năm 1953 tại Indonesia đã diễn ra hội nghị Bandung của các nhà lãnh đạo 24 quốc gia Châu Á và châu Phi.
Tại hội nghị này đã chủ trương trung lập, “ Không liên kết”, những người tham gia cũng khẳng định mong muốn hình thành một nguyên tắc quốc tế mới, giành ưu tiên cho các quốc gia nghèo, giúp cho các quốc gia này thoát khỏi tình trạng chậm phát triển.Tinh thần của nghị Bangdung đã thổi một luồng sinh khí mới trong các quan hệ quốc tế. Nó vạch rõ khả năng phát triển theo con đường thứ ba; không phải hướng về Đông hoặc Tây, mà về phương nam nghèo đói. Cho đến đầu năm 1960, từ thực tiển phải đối đầu với các vấn đề tương tự nhau, các quốc gia thuộc thế giới thứ ba ngày càng liên kết lại, họ đòi hỏi phải thay đổi các quan hệ kinh tế toàn cầu. Năm 1963, tại hội nghị nhóm 77 quốc gia thuộc thế giới thứ ba đã yêu cầu Liên Hợp quốc triệu tập Hội nghị về thương mại thế giới.
Họ nhấn mạnh cần có những quan hệ thương mại công bằng hơn giữa các nước giàu ở phương Bắc với các nước nghề ở phương Nam. Theo đó, năm 1964, lần đầu tiên đã diễn ra Hội nghị Liên Hiệp quốc về thương mại và phát triển, với mục tiêu đưa thương mại quốc tế thúc đẩy các quốc gia nghèo phát triển, yêu cầu các nước giàu phải mở cửa thị trường cho hàng hóa các nước thế giới thứ ba và phải giúp các nước này nâng cao năng lực sản xuất. Tiếp đó năm 1974, Liên hợp quốc đưa ra tuyên bố ủng hộ việc xây dựng một “ Trật tự kinh tế quốc tế mới làm cơ sở thúc đẩy đối thoại Bắc –Nam”.Phân chia các nƣớc theo trình độ phát triển kinh tế Dưới góc độ kinh tế, Các nước thuộc thế giới thứ ba còn được gọi là các nước đang phát triển. Khái niệm này, còn được dùng để phân biệt với các nước giàu ở phương bắc các nước phát triển (Đây là các nước có thời kỳ dài công nghiệp hóa và trở thành các nước công nghiệp phát triển).
Tuy vậy, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay các nước đang phát triển đã có sự phân hóa mạnh, một số nước đã tìm kiếm được con đường phát triển đúng đắn cho đất nước mình và vượt lên hàng đầu giữa các nước đang phát triển, trở thành các nước công nghiệp mới. Một số nước khác do ưu đãi của thiên nhiên đã có được những mỏ dầu lớn, tạo nguồn thu nhập lớn cho đất nước. Xuất phát từ thực tế này, nhân hàng thế giới (Word BanK) đề nghị một sự sắp xếp các nước trên thế giới thành 4 nhóm, Căn cứ để phân loại là mức thu nhập bình quân đầu người (GNI/người). Bên cạnh đó có tính đến trình độ cơ cấu kinh tế và mức độ thỏa mãn nhu cầu cho con người.
Nhóm 1: Các nước công nghiệp phát triển-DCs có khoảng trên 40 nước bao gồm nhóm 7 nước công nghiệp đứng đầu thế giới (thường được gọi là nhóm G7) và các nước công nghiệp phát triển khác. Các nước thuộc nhóm G7 là Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức, Ý, Canada. Từ năm 1999 với sự tham gia đầy đủ của Nga, nhóm này được gọi là G8. Những nước này nằm trong số những quốc gia có qui mô GNI lớn nhất thế giới (trên 500 tỷ USD) và GNI/người cao nhất thế giới (Trên 20.000USD/người).
Tán nước này chiếm trên 75% tổng giá trị công nghiệp trên toàn thế giới. Các nước công nghiệp phát triển khác bao gồm phần lớn các nước Tây Âu, Bắc Âu, Đông Âu, cùng Với Úc và Niudilan. Các nước này đều có mức GNI/ người đạt trên 15.000USD/ người và có tỷ trọng công nghiệp cao trong nền kinh tế. Nhóm 2: Các nước công nghiệp mới –NICs.
Dây là những nước, ngay từ thập niên 60 của thế kỷ XX. Trong đường lối phát triển kinh tế của mình đã biết tận dụng 14 lợi thế so sánh của đất nước qua từng thời kỳ để sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Họ cũng tranh thủ được nguồn vốn đầu tư và công nghệ của các nước phát triển để thực hiện công nghiệp hóa, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu, tiến tới nền công nghiệp hiện đại. Thu nhập bình quân đầu người của các nước này đạt khoảng trên 6.000USD/người Theo World BanK có khoảng trên 10 nước và vùng lãnh thổ đạt trình độ NICs gồm: Hy lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Brazin, Mexico, Achentina, Isaren, Hồng Công, Đài Loan, Singapo, Hàn Quốc.
Trong số những nước này, Thế giới đặc biệt quan tâm đến 4 nước NICs châu Á, được mệnh danh là “ bốn con rồng”. Những nước này đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 7-8% liên tục trong 3 thập niên, Có thời kỳ đạt 11-12% và có mức thu nhập bình quân trên 10.000USD/ người, họ đã tạo ra được những nền kinh tế đầy sức sống. Nhóm 3: các nước xuất khẩu dầu mỏ. Đây là những nước sau chiến tranh thế giới thứ hai, vào giữa thập niên 60 của thế kỷ XX bắt đầu phát hiện ra nguồn dầu mỏ lớn, họ đã tận dụng sự ưu đãi của thiên nhiên, tiến hành khai thác dầu mỏ xuất khẩu.
Để bảo vệ nguồn thu nhập từ dầu mỏ, chống lại xu hướng hạ giá dầu, các quốc gia này đã tập hợp nhau lại trong tổ chức xuất khẩu dầu mỏ (OPEC). Nhóm 4: Các nước đang phát triển – LDCs. Thuật ngữ đang phát triển được thể hiện để chỉ xu thế đi lên của hầu hết các nước thuộc thế giới thứ ba- các nước có nền công nghiệp lạc hậu, hoặc các nước nông-công nghiệp đang từ sản xuất nhỏ tiến lên con đường công nghiệp hóa. Những nước này lại được chia làm 3 loại: Những nước có mức thu nhập trung bình, đạt mức GNP/người trên 2.000USD những nước có mức thu nhập thấp đạt mức trên 600USD/người và những nước có mức thu nhập rất thấp đạt dưới 600USD/người.Những đặc trƣng cơ bản của các nƣớc đang phát triển 2.Sự Khác biệt giữa các nƣớc đang phát triển Mặc dù các nước đang phát triển có sự tương đồng nhất định về điều kiện lịch sử, địa lý, chính trị và kinh tế nhưng giữa các nước cũng có sự khác biệt cơ bản tạo nên tính đa dạng cho các nước này.
Những khác biệt đó là: -Qui mô của đất nước: Qui mô về diện tích và dân số. Trong hơn 130 quốc gia đang phát triển, có những quốc gia có diện tích rộng lớn và đông dân như : Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin. Ngược lại, có những nước nhỏ cả về diện tích và dân số như Bru nây, Maldives,.Nước lớn thường có lợi thế về tài nguyên phong phú, thị trường tiềm năng và thường ít bị lệ thuộc vào nguyên vật liệu của nước ngoài. Tuy vậy, nó cũng tạo ra những khó khăn về quản lý hành chính, đoàn kết quốc gia và sự cân đối giữa các khu vực.
Trong thực tế phát triển cũng không thấy mối quan hệ nào được thiết lập giữa qui mô của đất nước và mức thu nhập bình quân đầu người. Mức thu nhập giữa các nước có qui mô rất khác nhau, ví dụ mức thu nhập bình quân của Braxin là 3.400USD/người, của Trung Quốc là 860USD/ người, của Ấn Độ là 470USD/người. Giữa các nước có qui mô nhỏ cũng vậy, trong khi thu nhập bình quân đầu người của Fiji là 1700USD/ người thì của Guinee –Bissau là 180USD/người. -Bối cảnh lịch sử: Nguồn gốc lịch sử khác nhau của các nước đang phát triển cũng tác động đến những xu hướng khác nhau trong quá trình phát triển.
Hầu hết các nước châu á và châu phi đều có những thời kỳ dài là thuộc địa của các nước Tây Âu, chủ yếu là Anh và Pháp, ngoài ra còn Bồ Đào Nha, Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha.