Giáo trình Kinh tế: chính trị 2021 2021

Giáo trình kinh tế về chính trị 2021, biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng cao., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2021

174
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Kinh tế chính trị Mác Lênin Định nghĩa và ý nghĩa

Kinh tế chính trị Mác – Lênin là một trong những môn khoa học kinh tế chính trị quan trọng nhất của nhân loại, được hình thành và phát triển dựa trên nền tảng lý luận duy vật biện chứng và lịch sử chủ nghĩa. Môn học này nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế trong quá trình phát triển của xã hội, từ các nền sản xuất cổ xưa đến chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Ý nghĩa của kinh tế chính trị không chỉ nằm ở việc cung cấp tri thức khoa học mà còn hướng dẫn con người hiểu rõ hơn về cấu trúc kinh tế xã hội, từ đó góp phần vào việc xây dựng các chính sách phát triển kinh tế bền vững và công bằng.

1.1. Sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị

Thuật ngữ kinh tế chính trị lần đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ XVII trong tác phẩm của nhà kinh tế Pháp. Tuy nhiên, đến thế kỷ XVIII, với lý luận của Adam Smith, kinh tế chính trị mới trở thành một môn học có tính hệ thống với các phạm trù, khái niệm chuyên ngành rõ ràng. Quá trình phát triển này phản ánh sự tiến bộ của trình độ nhận thức của con người về các quy luật kinh tế xã hội.

1.2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin là các mối quan hệ sản xuất trong các giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau. Phương pháp nghiên cứu chính yếu là duy vật biện chứng, kết hợp phân tích lịch sử cụ thể. Phương pháp này cho phép chúng ta hiểu được bản chất của các hiện tượng kinh tế và dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai.

II. Các giai đoạn phát triển tư tưởng kinh tế thế giới

Quá trình phát triển tư tưởng kinh tế của nhân loại trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn phản ánh mức độ phát triển của nền sản xuất và xã hội. Từ thời cổ đại đến nay, chúng ta chứng kiến sự hình thành và phát triển của nhiều trường phái kinh tế khác nhau. Chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa trọng nông, và kinh tế chính trị tư sản cổ điển là những bước phát triển quan trọng. Mỗi trường phái này đều có những đóng góp riêng cho sự phát triển của khoa học kinh tế chính trị, tuy nhiên kinh tế chính trị Mác – Lênin mới là sự tổng kết toàn diện và khoa học nhất về các quy luật kinh tế.

2.1. Chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa trọng nông

Chủ nghĩa trọng thương (thế kỷ XV-XVII) nhấn mạnh vai trò của thương mại, đặc biệt là ngoại thương, trong việc tạo ra giàu có quốc gia. Chủ nghĩa trọng nông (thế kỷ XVII-XVIII) phát triển hơn, tập trung vào sản xuất nông nghiệp, tự do kinh tế và quyền sở hữu tư nhân. Cả hai trường phái này đều là những bước tiến so với tư tưởng kinh tế cổ trung đại.

2.2. Kinh tế chính trị tư sản cổ điển

Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh (thế kỷ XVII-XVIII) đại diện bởi Adam Smith và David Ricardo, cung cấp những phân tích sâu sắc về lao động, giá trị, và phân công lao động. Trường phái này có tính hệ thống cao hơn các trường phái trước, tuy nhiên vẫn bị giới hạn bởi tính chất của chủ nghĩa tư bản và không thể vượt qua được các mâu thuẫn nội tại của nó.

III. Chức năng của kinh tế chính trị Mác Lênin

Chức năng của kinh tế chính trị Mác – Lênin vô cùng quan trọng trong cả lý thuyết lẫn thực tiễn. Trong lĩnh vực lý thuyết, kinh tế chính trị cung cấp những khái niệm, phạm trù, và nguyên lý cơ bản để giải thích các hiện tượng kinh tế xã hội. Trong thực tiễn, nó hướng dẫn các chính sách kinh tế của các quốc gia xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng một nền kinh tế công bằng và hiệu quả. Kinh tế chính trị còn giúp con người hiểu rõ lịch sử phát triển của xã hội, nhận thức được các quy luật tất yếu và xu hướng phát triển trong tương lai.

3.1. Chức năng lý thuyết và nhận thức

Chức năng lý thuyết của kinh tế chính trị Mác – Lênin là cung cấp một hệ thống lý luận toàn diện về các quy luật kinh tế xã hội. Nó giải thích bản chất của các hiện tượng kinh tế, từ giá trị hàng hóa, lợi nhuận, đến sự tích lũy tư bản và cuộc cách mạng kinh tế xã hội. Thông qua đó, kinh tế chính trị nâng cao nhận thức của nhân dân về thế giới kinh tế.

3.2. Chức năng thực tiễn và ứng dụng

Trong lĩnh vực thực tiễn, kinh tế chính trị hướng dẫn các quyết sách chính sách kinh tế của nhà nước. Nó giúp phát triển các cơ cấu kinh tế hợp lý, tăng năng suất lao động, và phân phối tài sản xã hội một cách công bằng. Đặc biệt, kinh tế chính trị Mác – Lênin cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho con đường phát triển của các quốc gia xã hội chủ nghĩa.

IV. Tầm quan trọng của học tập kinh tế chính trị 2021

Trong bối cảnh hiện nay của năm 2021, học tập kinh tế chính trị vẫn giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Các sinh viên và những người làm công tác quản lý kinh tế cần nắm vững những kiến thức cơ bản về kinh tế chính trị Mác – Lênin để hiểu rõ hơn về cơ cấu kinh tế xã hội, các mối quan hệ sản xuất, và xu hướng phát triển trong tương lai. Giáo trình Chính trị 2021 cung cấp một cách tiếp cận toàn diện và khoa học về các vấn đề kinh tế chính trị, giúp người học phát triển tư duy phê phán và khả năng phân tích các vấn đề kinh tế xã hội hiện tại. Việc lĩnh hội tốt các nội dung này sẽ giúp các em tham gia hiệu quả hơn vào các hoạt động kinh tế xã hội.

4.1. Ý nghĩa của giáo trình Chính trị 2021

Giáo trình Chính trị 2021 được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của kinh tế chính trị Mác – Lênin, kết hợp với những phát triển mới nhất của thế giới kinh tế. Giáo trình này cung cấp những tri thức cơ bản về sự hình thành, phát triển của kinh tế chính trị, phương pháp nghiên cứu, và chức năng của nó. Đây là tài liệu học tập thiết yếu cho tất cả sinh viên muốn hiểu sâu về kinh tế xã hội.

4.2. Mục tiêu học tập và ứng dụng thực tiễn

Mục tiêu chính của việc học kinh tế chính trị là để sinh viên hiểu được sự hình thành và phát triển nội dung khoa học của môn học, nắm vững phương pháp nghiên cứu, và nhận thức rõ ý nghĩa của môn học đối với bản thân khi tham gia các hoạt động kinh tế xã hội. Qua đó, các em có thể áp dụng những kiến thức này vào thực tiễn công tác của mình một cách hiệu quả.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề, tại sao giữa các hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau lại trao đổi được với nhau?. Mối quan hệ tỷ lệ về lượng giữa các giá trị sử dụng khác nhau được C.Mác gọi là giá trị trao đổi.Mác cho rằng, sở dĩ các hàng hóa trao đổi được với nhau là vì chúng có một điểm chung. Điểm chung đó ở chỗ, chúng đều là kết quả của sự hao phí sức lao động. Tức là hàng hóa có giá trị.

Khi là hàng hóa, dù khác nhau về giá trị sử dụng, chúng đều là kết quả của sự hao phí sức lao động của người sản xuất ra hàng hóa ấy, nên hàng hóa có giá trị. Mặt khác, khi đã đề cập tới hàng hóa, có nghĩa là phải đặt sản phẩm của lao động ấy trong mối liên hệ với người mua, người bán, trong quan hệ xã hội. Do đó, lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa mang tính xã hội, tức hàm ý quan hệ giữa người bán với người mua, hàm ý trong quan hệ xã hội.Mác quan niệm đầy đủ hơn: 15 Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất đã hao phí để sản xuất ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa ấy. Như vậy, bản chất của giá trị là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa.

Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là phạm trù có tính lịch sử. Khi nào có sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi đó có phạm trù giá trị hàng hóa. Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sở của trao đổi.1 Một số quan niệm về hàng hóa trong kinh tế học Hàng cá nhân là một loại hàng hóa mà nếu được một người tiêu dùng rồi thì người khác không thể dùng được nữa. Kem là một loại hàng cá nhân.

Khi bạn ăn cái kem của mình thì người bạn của bạn sẽ không lấy que kem đó mà ăn nữa. Khi ta mặc áo quần, thì bất kể ai khác đều không được cùng lúc mặc những quần áo đó nữa. Hàng công cộng là một loại hàng hóa mà thậm chí nếu có một người dùng rồi, thì những người khác vẫn còn dùng được. Bầu không khí trong sạch là một loại hàng hóa công cộng.

Quốc phòng hoặc an toàn công cộng cũng vậy. Nếu như các lực lượng vũ trang bảo vệ đất nước khỏi hiểm nguy, thì việc bạn hưởng an toàn không vì lí do nào lại cản trở những người khác cũng hưởng an toàn. Hàng khuyến dụng là những hàng hóa mà xã hội nghĩ rằng người dân nên tiêu dùng hoặc tiếp nhận, cho dù thu nhập của họ ở mức nào đi chăng nữa. Hàng khuyến dụng thường bao gồm y tế, giáo dục, nhà ở và thực phẩm.

Mọi người nên có đầy đủ nơi ăn chốn ở và tiến hành các bước để đảm bảo điều đó. Nguồn: David Begg, Stanley Fisher, Rudiger Dornbusch, Kinh tế học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1992, trang 71, 72, 74. Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa - Thời gian lao động xã hội cần thiết – đơn vị đo lường lượng giá trị của hàng hóa Để đo lường lượng giá trị của một hàng hóa nhất định, sử dụng đơn vị thời gian hao phí lao động để sản xuất ra hàng hóa đó. Tuy nhiên, không phải là đơn vị thời gian bất kỳ mà là thời gian lao động xã hội cần thiết.

Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó trong những điều kiện bình thường của xã hội với trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình. Vậy, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa là lượng thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra đơn vị hàng hóa đó. 16 Trong thực hành sản xuất, người sản xuất thường phải tích cực đổi mới, sáng tạo nhằm giảm thời gian hao phí lao động cá biệt tại đơn vị sản xuất của mình xuống mức thấp hơn mức hao phí trung bình cần thiết. Khi đó sẽ có được ưu thế trong cạnh tranh.

Xét về mặt cấu thành, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa được sản xuất ra bao hàm: hao phí lao động quá khứ (chứa trong các yếu tố vật tư, nguyên nhiên liệu đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa đó) + hao phí lao động mới kết tinh thêm. - Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa Lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa được đo lường bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó, cho nên, về nguyên tắc, những nhân tố nào ảnh hưởng tới lượng thời gian hao phí xã hội cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa tất sẽ ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hóa.Mác cho rằng, có những nhân tố sau đây: Một là, năng suất lao động. Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Khi tăng năng suất lao động, sẽ làm giảm lượng thời gian hao phí lao động cần thiết trong một đơn vị hàng hóa.

Cho nên, tăng năng suất lao động, sẽ làm giảm lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa. Năng suất lao động có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa. Vì vậy, trong thực hành sản xuất, kinh doanh cần phải được chú ý, để có thể giảm hao phí lao động cá biệt, cần phải thực hiện các biện pháp để góp phần tăng năng suất lao động.Mác, các nhân tố tác động đến năng suất lao động gồm những yếu tố chủ yếu như: trình độ của người lao động; trình độ tiên tiến và mức độ trang bị kỹ thuật, khoa học, công nghệ trong quá trình sản xuất, trình độ quản lý; cường độ lao động và yếu tố tự nhiên. Khi xem xét về mối quan hệ giữa tăng năng suất với lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa, C.Mác còn chú ý thêm về mối quan hệ giữa tăng cường độ lao động với lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa.

Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất. Tăng cường độ lao động là tăng mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động. Trong chừng mực xét riêng vai trò của cường độ lao động, việc tăng cường độ lao động làm cho tổng số sản phẩm tăng lên. Tổng lượng giá trị của tất cả các hàng hóa gộp lại tăng lên.

Song, lượng thời gian hao phí để sản xuất một đơn vị hàng hóa không thay 17 đổi. Do chỗ, tăng cường độ lao động chỉ nhấn mạnh tăng mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động thay vì lười biếng mà sản xuất ra số lượng hàng hóa ít hơn. Tuy nhiên, trong điều kiện trình độ sản xuất hàng hóa còn thấp, việc tăng cường độ lao động cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo ra số lượng các giá trị sử dụng nhiều hơn, góp phần thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội. Cường độ lao động chịu ảnh hưởng của các yếu tố sức khỏe, thể chất, tâm lý, trình độ tay nghề thành thạo của người lao động, công tác tổ chức, kỷ luật lao động… Nếu giải quyết tốt những vấn đề này thì người lao động sẽ thao tác nhanh hơn, thuần thục hơn, tập trung hơn, do đó tạo ra nhiều hàng hóa hơn.

Hai là, tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động. Khi xét với một hoạt động lao động cụ thể, nó có thể là lao động có tính chất giản đơn, cũng có thể là lao động có tính chất phức tạp. Dĩ nhiên, dù giản đơn hay phức tạp thì lao động đó đều là sự thống nhất của tính hai mặt, mặt cụ thể và mặt trừu tượng như đã đề cập ở trên. Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệ thống, chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ cũng có thể thao tác được.

Lao động phức tạp là những hoạt động lao động yêu cầu phải trải qua một quá trình đào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Với tính chất khác nhau đó, nên, trong cùng một đơn vị thời gian, một hoạt động lao động phức tạp sẽ tạo ra được nhiều lượng giá trị hơn so với lao động giản đơn.Mác gọi lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân bội lên. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để cả nhà quản trị và người lao động tính toán, xác định mức thù lao cho phù hợp với tính chất của hoạt động lao động trong quá trình tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa với lao động sản xuất hàng hóa, C.Mác phát hiện ra rằng, sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hóa có tính hai mặt.Tính hai mặt đó là: mặt cụ thể và mặt trừu tượng của lao động.

- Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thế của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích lao động riêng, đối tượng lao động riêng, công cụ lao động riêng, phương pháp lao động riêng và kết quả riêng. Lao 18 động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Các loại lao động cụ thể khác nhau về chất nên tạo ra những sản phẩm cũng khác nhau về chất và mỗi sản phẩm có một giá trị sử dụng riêng.

Trong đời sống xã hội, có vô số những hàng hóa với những giá trị sử dụng khác nhau do lao động cụ thể đa dạng, muôn hình muôn vẻ tạo nên. Phân công lao động xã hội càng phát triển thì xã hội càng nhiều ngành nghề khác nhau, do đó, có nhiều giá trị sử dụng khác nhau. Khoa học kỹ thuật, phân công lao động càng phát triển thì các hình thức lao động cụ thể càng phong phú, đa dạng. - Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa không kể đến hình thức cụ thể của nó; đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hóa về cơ bắp, thần kinh, trí óc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ