chương I (mục 1.5); biên soạn chương 6. Nguyễn Bích Thủy: biên soạn chương l (mục 1. NCS Mai Thanh Huyền: biên soạn chương 2 - TS. Phạm Minh Đạt: biên soạn chương 3 - ThS.
NCS Trương Quang Minh: biên soạn chương 4 - TS. Phan Thu Trang: biên soạn chương Š Tập thê tác giả trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Thương mại, phòng Quản lý khoa học, khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế, bộ môn Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, các nhà khoa học đã đóng góp ý kiến quý báu và tạo điều kiện thuận lợi để tập thể tác giả hoàn thành việc biên soạn giáo trình. Tập thẻ tác giả cũng trân trọng cảm ơn các chuyên gia, các nhà quản trị, các doanh nghiệp,. đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình biên soạn giáo trình này.
Mặc dù đã có nhiều cô gắng, song do hạn chế về tư liệu, kinh doanh quốc tế là một lĩnh vực rộng, đa dạng, phát triển nhanh. nên giáo trình không thê tránh khỏi những thiếu sót. Tap thé tac gia rat mong nhận được ý kiến của người đọc để chúng tôi hoàn thiện hơn trong những lần tái bản tiếp theo. Trân trọng cảm ơn! Tập thể chủ biên PSG.
Doãn Kế Bôn TS. Lê Thị Việt Nga Chương Í KINH DOANH QUOC TE _ TRONG BOI CANH TOAN CAU HOA Mục tiêu của chương ï - Phân tích được những vấn đề về toàn cầu hóa, nội dung của toàn cau hóa và những nhân tô thúc đây toàn câu hóa. - Hiểu được những vấn đề cơ bản về hoạt động kinh doanh quốc tế, chủ thê và động cơ tiễn hành hoạt động kinh doanh quốc tế. - Phân tích được những cơ hội và thách thức từ bối cảnh toàn cầu hóa đối với hoạt động kinh doanh quôc tê.
Tình huống: Hoạt động kinh doanh quốc tế của Vinamilk Công ty Cé phan Sita Viét Nam (Vietnam Dairy Products Joint Stock Company - Vinamilk) 1a mé6t công ty sản xuất, kinh doanh sữa và các sản phâm từ sữa cũng như thiết bị máy móc liên quan tại Việt Nam, được thành lập từ năm 1976. Trong hơn 40 năm phát triển, Vinamilk luôn tiên phong phát triển các sản phẩm mới dẫn đầu xu hướng về dinh dưỡng và sức khoẻ theo các chuẩn mực cao nhất của thể giới. Năm 2020, Vinamilk đã có hệ thống 10 trang trại đang hoạt động, đều có quy mô lớn với toàn bộ bò giống nhập khâu từ Úc, Mỹ, và New Zealand. Hệ thống trang trại Vinamilk trải dài khắp Việt Nam là những trang trại đầu tiên tại Đông Nam Á đạt chuẩn quốc tế Thực Hành Nông Nghiệp Tốt Toàn cầu (Global G.
Trang trại bò sữa organic tại Đà Lạt được khánh thành vào tháng 3-2017 là trang trại bò sữa organic đầu tiên tại Việt Nam đạt được tiêu chuẩn Organic Châu Âu do Tổ chức Control Union chứng nhận. Ngoài 13 nhà máy sản xuất sữa trải đài khắp Việt Nam, Vinamilk còn đầu tư xây dựng nhà máy sữa Angkor tại Campuchia (Vinamilk sở hữu 100%), Vinamilk nắm 22,8% cô phần tại nhà máy sữa Miraka (New Zealand), sở hữu 100% cô phần nhà máy Driftwood (Mỹ), đầu tư công ty con tại Ba Lan làm cửa ngõ giao thương các hoạt động thương mại của Vinamilk tại châu Âu và mở văn phòng đại diện tai Thai Lan. Sản pham cua Vinamilk hiện cũng có mặt ở hơn 40 nước trên thé giới, như Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Đông, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Canada, Mỹ, Úc. Kim ngạch xuất khâu của Vinamilk từ mức xấp xỉ 30 triệu USD vao nam 1998 đã tăng lên gần 260 triệu USD năm 2016.
Toàn bộ quá trình sản xuất của nhà máy đều đạt chuẩn GMP và các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe như tiêu chuẩn ISO 9001, ISO 17025, ISO 14000, tiêu chuân 22000 và tiêu chuẩn FSSC 22000, trong đó GMP là tiêu chuẩn bất buộc đối với các nhà máy sản xuất được phẩm và được khuyến khích áp dụng cho cả các công ty thực phẩm nói chung. Không ngừng nỗ lực áp dụng những công nghệ và tiêu chuẩn hàng đầu thế giới, nâng cao chất lượng sản phẩm, Vinamilk được tạp chí Forbes Việt Nam bình chọn là thương hiệu giá trị nhất Việt Nam với giá trị thương hiệu đạt 1,7 tỷ USD và liên tục trong 3 năm liền Vinamilk được bình chọn là nhãn hàng tiêu dùng nhanh hàng đầu Việt Nam theo số liệu báo cáo của Kantar Worldpanel. Uy tin của công ty cũng như chất lượng sản phẩm lại một lần nữa đã được khăng định khi sản phẩm sữa tươi Vinamilk 100% được Công ty Nielsen chứng nhận là nhãn hiệu đứng đầu phân khúc sữa tươi Vinamilk trong năm 2015, 2016 và 7 tháng đầu năm 2017 về cả doanh số và sản lượng. Ngày 28/11/2019, tại Singapore, Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) là doanh nghiệp sữa của Việt Nam duy nhất nhận giải thưởng Doanh nghiệp Xuất khâu của châu Á năm 2019 (The Asian Export Awards 2019), thuộc bảng các doanh nghiệp lớn.
Trong đó, sản phẩm sửa đặc, mặt hàng xuất khẩu truyền thống thế mạnh của Vinamilk, đã được Ban tổ chức vinh danh trong hạng mục Thực phẩm chế biến (Processed Food). Bên cạnh các điểm sáng về hoạt động kinh doanh quốc tế khác trong năm 2019, giải thưởng này đã cho thấy một bước tiễn của Vinamilk trong việc đem “sữa Việt" vươn ra thế giới. Tổng hợp từ các nguồn: 1.vn/vinamilk-thuong-hieu-sua-tuoi-dan-dau-thi- truong-viet-nam-1373890.vn/vinamilk-nhan-giai-thuong- doanh-nghiep-xuat-khau-cua-chau-a-nam-20 1 9-d27883. Khái niệm và bản chất của toàn cầu hóa Toàn cầu hóa đã có quá trình hình thành từ rất sớm, khi có sự hình thành các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và có sự liên kết, hợp tác giữa các quốc gia.
Đặc biệt, bước sang thế kỷ 19, từ những năm 1830, khi có sự phát triển của các tuyến giao thông đường biển, đường sắt và sự gia tăng các doanh nghiệp sản xuất, thương mại, hoạt động mua bán hàng hóa giữa các quốc gia trở nên phát triển, mở rộng hơn. Đến những năm 1890, hoạt động thương mại giữa các nước trở nên nhanh hơn, nhiều hơn nhờ có sự ra đời của các phương tiện truyền tin như điện thoại, máy điện báo. Sang đầu thế kỷ 20, thương mại quốc tế vẫn tiếp tục phát triển cùng với sự phát triển của những ngành công nghiệp như công nghiệp thép, công nghiệp điện năng cho đến khi nền kinh tế thế giới bước vào giai đoạn đại suy thoái bắt đầu từ năm 1929. Trong những năm 1900, các nước Tây Âu được coi là những nước công nghiệp phát triển, nhiều công ty đa quốc gia ra đời với trụ sở chính ở các nước châu Âu và nhiều chỉ nhánh được thành lập ở các nước thuộc địa tại châu Á, châu Phi, khu vực Trung Đông.
Có thể kể đến những công ty đa quốc gia đã sớm được thanh lap nhu BASF, Neslé, Shell, Siemens, British petroleum, Fiat. Đặc biệt, hãng xe Fiat của Ý đã từng là nhà cung cấp xe cho nhiều quốc gia trên thế giới. Giai đoạn 1914-1945, các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề bởi các cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và Chiến tranh thế giới lần thứ hai nên làm suy giảm hoạt động thương mại quốc tế. Kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nước đều có nhu cầu khôi phục lại nền kinh tế cũng như có nhu cầu lớn đối với hàng hóa tiêu ding va hang công nghiệp.
Bởi vậy, nhiều quốc gia, trong đó có Mỹ, Anh, Úc, Nhật Bản mong muốn hợp tác với nhau đề hạ thấp các rào cản thương mại nhằm cung cấp hàng hóa đáp ứng nhu cầu của nhau. Năm 1947, tại Hội nghị Bretton Woods, 23 quốc gia đã nhất trí thông qua Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947), theo đó các nước cam kết cắt giảm rào cản đối với thương mại và đầu tư quốc tế, đặc biệt là rào cản thuế quan, bởi lẽ các nước đó cho rằng chi có thực hiện tự do hóa thương mại mới có thê đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đây tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng của cuộc sống. Sự ra đời của GATT 1947 đã có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thương mại quốc tế giữa 23 nước thành viên theo hướng tự do hơn, công bằng hơn, minh bạch hơn. GATT 1947 còn có vai trò quan trọng trong việc tạo nên cơ sở pháp lý cho các nước đảm phán về tự do hóa thương mại, trong đó vòng đàm phán Uruguay với sự tham gia của 123 thành viên đã thống nhất được nhiều nội dung làm khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt các thành viên đã đồng thuận nhất trí thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) bắt đầu hoạt động từ 1/1/1995.
WTO có cơ cấu tổ chức chặt chẽ với hệ thông các nguyên tắc, quy định, cơ chế hoạt động được coi là hoàn chỉnh hơn so với GATT 1947 nhằm đảm bảo hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế ngảy càng tự do, công bằng, hiệu quả. Năm 2019, WTO có 164 thành viên với giá trị thương mại giữa các thành viên chiếm 98% tổng giá trị thương mại toàn cầu. Quá trình hình thành GATT 1947 và WTO là minh chứng nổi bật thể hiện hoạt động hợp tác mang tính toàn cầu giữa các quốc gia trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, cũng là minh chứng cho thấy tiến trình toàn cầu hóa đang diễn ra. Bên cạnh đó, sự ra đời của Ngân hàng thế giới (WB).
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD),. cũng là những minh chứng cho thấy sự liên kết, hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới nhằm giải quyết những vấn đề về tài chính, kinh tế mang tính toàn cầu với mục tiêu thúc đây phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới. Ngoài ra, quá trình liên kết, hợp tác giữa các quốc gia tạo nên các liên kết khu vực như ASEAN, APEC, NAFTA, MERCOSUR, EU. cũng như quá trình các quốc gia vẫn không ngừng nỗ lực hợp tác, đàm phán và ký kết các thỏa thuận thương mại tự do (FTA).
cùng với việc ngày càng nhiều các tập đoàn đa quốc gia mở rộng phạm vi hoạt động với độ bao phủ toàn cầu như Unilever, P&G, Philips, Samsung, HSBC, Prudential. đều là những minh chứng về một quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Toàn cầu hóa không chỉ thể hiện qua quá trình hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, thương mại, mà còn thể hiện qua quá trình liên kết, hợp tác giữa các nước trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như chính trị, luật pháp, văn hóa, quân sự, khoa học công nghệ.