CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN MÔI TRƯỜNG Cùng với sự quan tâm của xã hội tới các vấn đề về chất lượng môi trường sống và sự khắt khe ngày càng gia tăng của hệ thống luật pháp đã dẫn đến đòi hỏi tất yếu về thông tin môi trường trong các doanh nghiệp. Trong những năm gần đây, KTMT được nhìn nhận như là một công cụ cung cấp các thông tin về môi trường, làm cơ sở cho các đánh giá khả năng rủi ro về môi trường mà doanh nghiệp gây ra, nghĩa vụ môi trường của doanh nghiệp, cũng như mức độ thỏa mãn đối với các tiêu chuẩn hoặc luật lệ về môi trường. Sử dụng thông tin của KTMT là bản thân các doanh nghiệp, khách hàng, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, chính quyền (trung ương và địa phương), cũng như công chúng.
KTMT giúp giảm các rủi ro về môi trường cũng như rủi ro về sức khỏe cộng đồng và cải thiện công tác quản trị môi trường ở mức độ doanh nghiệp. KTMT được tiến hành nhằm mục đích kiểm tra và đánh giá sự tuân thủ của các cơ sở sản xuất (CSSX) đối với các luật lệ và quy định khắt khe của môi trường. Ban đầu thì KTMT chỉ tập trung vào nhiệm vụ trên, tuy nhiên cùng với thời gian và yêu cầu thực tế thì KTMT ngày càng được mở rộng và bao trùm nhiều khía cạnh hơn. Đây là một xu hướng phát triển tất yếu và khách quan.
Ngày nay, khi vấn đề môi trường ngày càng trở nên phức tạp và mang tính chất toàn cầu thì càng có nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng KTMT trong việc BVMT. TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN MÔI TRƯỜNG 1. Sự hình thành kiểm toán môi trường ở Việt Nam và thế giới Trong nhiều thập kỷ qua, cộng đồng dân cư trên thế giới đã phải đối mặt với nguy cơ mất cân bằng sinh thái; đồng thời phải trực tiếp hoặc gián tiếp hứng chịu 5 những mất mát về sinh mạng và của cải do những diến biến thất thường của trái đất, khí hậu và nước biển dâng cao. Nhận thức được vấn đề vừa mang tính chiến lược vừa mang tính cấp bách về “một thảm họa môi trường trong tương lai”, những người đứng đầu các Quốc gia, nhất là các Quốc gia có nền kinh tế phát triển đã “nhóm họp” để đưa ra những đánh giá chung mang tính toàn cầu và có sự đồng thuận về sự cần thiết phải xây dựng Chương trình nghị sự về bảo vệ môi trường (BVMT).
Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức tại Rio De Janeiro (Brazin) với sự có mặt của 179 quốc gia. Hội nghị này đã thông qua “Bản tuyên bố Johannedburg và Bản Kế hoạch thực hiện về phát triển bền vững”. Hội nghị tiếp tục khẳng định sự bất biến của những nguyên tắc đã đề ra trước đây; đồng thời nhấn mạnh những cam kết thực hiện đầy đủ “Chương trình nghị sự 21” về phát triển bền vững. Năm 1991, Việt Nam là một trong những Quốc gia đầu tiên ban hành “Kế hoạch quốc gia về Môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000”.
Tháng 4/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg phê duyệt Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam. Kiểm toán môi trường là công cụ quản lý bao gồm một quá trình đánh giá có tính hệ thống, định kỳ và khách quan được văn bản hóa về việc làm thế nào để thực hiện tổ chức môi trường, quản lý môi trường và trang thiết bị môi trường hoạt động tốt. Kiểm toán môi trường là một công cụ quản lý chỉ có giá trị khi được hình thành trong một hệ thống quản lý tổng thể. Nó không thể đứng đơn độc.
Nó là một công cụ giám sát trợ giúp việc ra quyết định và giám sát quản lý. Chính vì vậy, từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế ký 20, khái niệm “kiểm toán môi trường” đã được sự quan tâm sâu sắc của INTOSAI. Tháng 10/1992, tại Hoa 6 Kỳ, INTO AI đã nhanh chóng thành lập Nhóm làm việc về Kiểm toán môi trường (INTOSAI WGEA). Tổ chức của Nhóm gồm: Hội đồng (Assembly), Ban chỉ đạo (Steering Committee) và các thành viên (Members).
Hiện nay, INTOSAI WGEA có 66 thành viên cứ 2 năm họp một kỳ. Kỳ họp thứ 12 sẽ tổ chức tại Doha (Qatar) vào tháng 1/2009. Ban chỉ đạo gồm 18 thành viên cứ mỗi năm họp một kỳ. Kỳ họp thứ 7 đã tổ chức tại Tallinn (Estonia) từ ngày 06-09/5/2008.
INTOSAI WGEA là Nhóm làm việc có số lượng thành viên lớn nhất trong các nhóm làm việc của INTOSAI. Hiện nay, có 6 trong 7 khu vực đã thành lập Nhóm làm việc cấp khu vực về kiểm toán môi trường (RWGEA), gồm: Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, Caribe và Nam Thái Bình Dương. Nhóm làm việc khu vực về kiểm toán môi trường của ASOSAI (ASOSAI RWGEA) được thành lập tháng 10/2000 tại Thái Lan, hiện có 23 thành viên do Tổng Kiểm toán Nhà nước Trung Quốc làm chủ tịch. Tôn chỉ hoạt động của INTOSAI WGEA là: Tăng cường việc áp dụng các chức năng và công cụ kiểm toán vào chính sách BVMT; mục tiêu chiến lược của INTOSAI WGEA là: Cam kết để lại cho thế hệ tương lai một tài sản nguyên vẹn bằng cách nâng cao chất lượng môi trường, công tác quản lý tài nguyên, mang lại sức khỏe và sự thịnh vượng cho nhân loại; đem lại giá trị gia tăng cùng với các công cụ hữu hiệu và dịch vụ cho các thành viên, giúp các thành viên gia tăng ảnh hưởng của mình đối với các nhà làm luật; chú trọng đến việc hỗ trợ và hợp tác đa phương, tạo lập và chia sẻ kiến thức, phát triển năng lực và đào tạo nguồn nhân lực có hàm lượng công nghệ cao.
Việc Kiểm toán nhà nước Việt Nam trở thành thành viên chính thức của INTOSAI WGEA và ASOSAI RWGEA là cần thiết và tạo những cơ hội thuận lợi cho KTNN VN tham gia sâu hơn vào các hoạt động mang tính chuyên môn cao của INTOSAI và ASOSAI. Xuất phát từ thực tế đó, ngày 17/01/2008, Tổng Kiểm toán nhà nước đã ban hành Quyết định số 42/QĐ-KTNN về việc thành lập Nhóm làm việc Kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước. Khái niệm kiểm toán môi trường KTMT (Environmental Audit) là một khái niệm mới ở nước ta, song thực chất nội dung của nó đã và đang được thực hiện ở các cơ sở công nghiệp và các công ty dưới nhiều tên gọi khác nhau như: rà soát môi trường, tổng quan môi trường, kiểm soát môi trường hay đánh giá tác động môi trường (Trịnh Thị Thanh & Nguyễn Thị Hà, 2003). KTMT là một thuật ngữ bắt nguồn từ ngành kế toán tài chính nhằm chỉ khái niệm về phép kiểm chứng các hoạt động tác nghiệp và xác nhập về số liệu (Kiểm toán tài chính).
Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về KTMT. Năm 1998, Viện thương mại Quốc tế ICC (International Chamber of Commerce) đã đưa ra khái niệm ban đầu về KTMT như sau: “KTMT là một công cụ quản lý bao gồm sự ghi chép một cách khách quan, công khai các tổ chức môi trường, sự vận hành các thiết bị, cơ sở vật chất với mục đích quản lý môi trường bằng cách trợ giúp quản lý, kiểm soát các hoạt động và đánh giá sự tuân thủ các chính sách của công ty bao gồm sự tuân thủ theo các tiêu chuẩn môi trường”. Theo tiêu chuẩn ISO 14010 (1996) thì KTMT được định nghĩa như sau: “KTMT là một quá trình thẩm tra có hệ thống và được ghi thành văn bản, bao gồm việc thu thập và đánh giá một cách khách quan các bằng chứng nhằm xác định những hoạt động, sự kiện, hệ thống quản lý liên quan đến môi trường hay các thông tin về những kết quả của quá trình này cho khách hàng”. Theo Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Thị Vân Hà năm 2003 thì KTMT được hiểu một cách khách quan: “Tổng hợp các hoạt động điều tra, theo dõi có hệ thống theo chu kỳ và đánh giá một cách khách quan đối với công tác tổ chức quản lý môi trường, quá trình vận hành công nghệ sản xuất, hiện trạng vận hành của trang thiết bị,…với mục đích kiểm soát các hoạt động và đánh giá sự tuân thủ của 8 các đơn vị, các nguồn tạo ra chất thải đối với những chính sách của nhà nước về môi trường”.
Còn theo Cục BVMT năm 2003 thì KTMT: “Công cụ quản lý bao gồm một quá trình đánh giá có tính hệ thống, định kỳ và khách quan được văn bản hóa về việc làm thế nào để thực hiện tổ chức môi trường, quản lý môi trường và trang thiết bị môi trường hoạt động tốt”. Từ những định nghĩa này ta có thể rút ra những điểm mấu chốt của KTMT: - Quá trình kiểm tra có hệ thống và được ghi thành văn bản. - Tiến hành một cách khách quan. - Thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán.
- ác định vấn đề xem xét có phù hợp với tiêu chuẩn kiểm toán hay không. - Thông tin các kết quả của quá trình này cho khách hàng. Mặc dù các định nghĩa về KTMT có thể khác nhau về mặt ngôn từ và cách diễn đạt song một định nghĩa về KTMT được coi là hoàn chỉnh khi nó trả lời được những câu hỏi mà các nhà quản lý của các tổ chức, công ty đưa ra đó là: - Chúng tôi đang làm gì? Cụ thể, liệu chúng tôi có phải tuân thủ tất cả các luật, quy định của Chính phủ và các hướng dẫn hay không? - Chúng tôi có thể làm tốt hơn không? Cụ thể, ở những khu vực không được quy định, các hoạt động có thể được tăng cường để giảm thiểu tác động môi trường hay không? - Chúng tôi có thể làm điều đó với chi phí rẻ hơn không? - Và chúng tôi phải làm gì nữa? 1. Nội dung, đối tượng, mục tiêu, ý nghĩa và lợi ích của kiểm toán môi trường 1.
Nội dung của kiểm toán môi trường Từ các định nghĩa về kiểm toán môi trường đã được đưa ra ở phần trên chúng ta có thể thấy nội dung chính của kiểm toán môi trường là: 9 - Đi xem xét, đánh giá sự tuân thủ các thủ tục BVMT và các chính sách môi trường của một doanh nghiệp, tổ chức tuân theo các nguyên tắc giữ gìn môi trường trong sạch và phát triển bền vững không? - Một cuộc rà soát có hệ thống, liên quan tới việc phân tích, kiểm tra, xác nhận các thủ tục và thực tiễn hoạt động BVMT của các doanh nghiệp, nhà máy nhằm đưa ra kết luận xem các cơ sở đó có tuân thủ theo những quy định, các chính sách môi trường của nhà nước hay không?