chương 1, 6. Đặng Thị Hoà biên soạn chương 2. Lê Thị Thanh Hải biên soạn chương 3. Phạm Thị Thu Thuỷ biên soạn chương 4.
Phạm Đức Hiếu biên soạn chương 3. Nguyễn Thành Hưng tham gia biên soạn bài tập và bài giái mâu các chương 2, 3 và 6. Trong quá trình biên soạn, các tác giả đã có nhiều cô gắng, tuy nhiên do biên soạn và xuất ban lan dau nên khó tránh khỏi những khiếm khuyết. Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của độc giả đề giáo trình ngày càng được hoàn thiện hơn.
Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về: Công ty Cả phân sách Đại học — Dạy nghệ, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam 25 Hàn Thuyên — Hà Nội. Xïn chân thành cảm ơn. TAP THE TAC GIA NHUNG CHU VIET TAT DN Doanh nghiép GTGT Gia tri gia tang KKTX Kê khai thường xuyên KKĐK Kiểm kê định kỳ TK Tài khoản BĐS Bất động sản NKC Nhật ký chung SPS Số phát sinh HB Hợp đồng XNK Xuất nhập khẩu TGNH Tiền gửi ngân hàng NK Nhập khẩu LC Thư tín dụng LNST Lợi nhuận sau thuế LNTT Lợi nhuận trước thuế Chương Í TO CHUC CONG TAC KE TOÁN TRONG DOANH NGHIEP THUONG MAI Đề tổ chức công tác quản lý, một trong số các nội dung quan trọng doanh nghiệp (DN) cần thực hiện là tổ chức công tác kế toán. Tổ chức tốt công tác kế toán giúp cung cấp thông tin kế toán hữu ích phục vụ quản lý DN.
Việc tổ chức công tác nảy trong các DN không hoàn toàn giỗng nhau do chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh đoanh. của các đơn vị khác nhau. Tại các DN thương mại, với những đặc thủ riêng của ngành, việc tổ chức công tác kế toán cũng có những đặc trưng riêng. BAC DIEM HOAT DONG KINH DOANH THUONG MAI Thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh.
Theo nghĩa hẹp thì thương mại là quá trình mua, bán hàng hoá trên thị trường. là lĩnh vực lưu thông, phân phối hàng hoá. Kinh doanh thương mại là điều kiện thúc đây sản xuất hàng hoá phát triển, mở rộng khả năng tiêu dùng, giúp DN năng động. sáng tạo trong sản xuất kinh doanh đẻ có cơ hội hơn trong cạnh tranh.
Hoạt động kinh doanh thương mại có nhiều đặc điểm khác biệt so với các ngành sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. trong đó, những đặc điểm cơ bản ảnh hưởng tới tổ chức công tác kế toán như sau: — Hoạt động kinh doanh thương mại là tổ chức quá trình lưu thông hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu đừng. Địa bàn hoạt động có thể trong nước hoặc ngoài nước. Khi thực hiện hoạt động này, DN phải nắm vững nhu cầu thị trường, huy động và sử dụng hợp lý các nguồn hàng nhăm thoả mãn tốt mọi nhu cầu xã hội.
Ngoài ra, trong 7 quá trình thực hiện lưu thông hàng hoá, các DN thương mại còn có thể tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông thông qua việc tổ chức vận chuyển, tiếp nhận, phân loại, sơ chế. và thực hiện dự trữ hàng hoá. Đề tổ chức các kênh phân phối bán lẻ, bán buôn, các DN phải có mạng lưới cửa hàng bán lẻ, đại lý hợp lý. ~ Hoạt động kinh doanh thương mại thực hiện giá trị hàng hoá.
Với đặc điểm này, các DN thương mại cần quan tâm đến giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá. DN sản xuất và người tiêu dùng cần giá trị sử dụng của hàng hoá với giá cả phải chăng. Vì vậy, DN thương mại cần quản ly chặt chẽ chi phi mua hàng và các chỉ phí kinh doanh cũng, như xác định đúng giá của hàng xuất kho, làm cơ sở định giá bán hợp lý. TỎ CHỨC CÔNG TÁC KE TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI Kế toán là công cụ quản lý kinh tế tài chính cần thiết trong bất kỳ chế độ kinh tế xã hội nào nhằm kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế tài chính trong các đơn vị kế toán cũng như trong phạm vi toàn bộ nên kinh tế quốc dân.
Vai trò của kế toán xuất phát từ yêu cầu thực tế khách quan của quá trình quản lý hoạt động sản xuất kính doanh. Đề phát huy vai trò đó, vấn đề có tính chất quyết định là phải biết tổ chức một cách khoa học và hợp lý công tác kế toán trong các đơn vị. Tổ chức công tác kế toán trong đơn vị kế toán là tô chức lao động kế toán để áp dụng các phương pháp kế toán, nhằm thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin kinh tế phục vụ cho công tác quản lý kinh té don vi. Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp thương mại Nguyên tắc thứ nhất, tô chức công tác kế toán trong DN phải tuân thủ các văn bản pháp lý về kế toán hiện hành của Nhà nước.
Để thực hiện được việc quản lý thống nhất công tác kế toán, Nhà nước ban hành hệ thống văn bản pháp lý về kế toán, yêu cầu tất cả các đơn vị kế toán trong nền kinh tế phải tuân theo. Trong đó, Luật Kế toán quy định về nội dung công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, người làm công tác kế toán và hoạt động nghề nghiệp kế toán, chuẩn mực kế toán đưa ra những nguyên tắc và phương pháp kế toán co ban dé ghi số kế toán và lập báo cáo tài chính, chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể. Khi tổ chức công tác kế toán, việc tuân thủ các văn bản pháp lý về kế toán do Nhà nước ban hành sẽ đảm bảo kế toán là một công cụ quản lý, giám sát chặt chẽ mọi hoạt động kinh tế, tài chính, cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực, đáp ứng yêu câu tổ chức, quản lý điều hành của cơ quan Nhà nước. Nguyên tắc thứ hai, tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với đặc điểm tổ chức kinh doanh, tổ chức quản lý của DN.
Trong mỗi nên kinh tế, các DN thương mại khác nhau sẽ có những đặc điểm và điều kiện riêng khác nhau, yêu cầu và trình độ quản lý kinh tế cũng khác nhau. Do đỏ, cũng có sự khác nhau về tổ chức công tác kế toán. Chính vì vậy, khi tổ chức công tác kể toán DN, phải căn cứ và đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm và điều kiện riêng của từng đơn vị, như chức năng, nhiệm vụ, tính chất hoạt động của DN, quy mô của DN, sự phân cấp quản lý của đơn vị, trình độ và yêu cầu quản lý của đơn vị, số lượng và trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán, trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hạch toán, sự phân bồ mạng lưới và điều kiện giao thông liên lạc. Thực hiện nguyên tắc này, sẽ đảm bảo lựa chọn được mô hình tổ chức bộ máy kế toán phù hợp với đơn vị, hệ thống số kế toán theo hình thức kế toán thích hợp, phương pháp kế toán hàng tồn kho phù hợp, và tìm được những phương án tối ưu trong quá trình lựa chọn áp dụng các quy định, các phương pháp kế toán.
Nguyên tắc thứ ba, lựa chọn những người có đủ năng lực và điều kiện làm công tác kế toán. Người làm kế toán trong đơn vị phải có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, phải có trình độ chuyên môn kế toán đáp ứng được yêu cầu công tác kế toán. Những người có trách nhiệm điều hành quản lý DN và kế toán trường ở các DN nhà nước, Công ty 9 Cổ phần, hợp tác xã không được đưa người nhà (bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột) vào làm kế toán ở DN. Thủ kho, thủ quỹ và những người thực hiện các hoạt động mua, bán vật tư, tài sản, hàng.
hoá trong DN không được kiêm nhiệm công tác kế toán. Nguyên tắc thứ tư, tô chức công tác kế toán trong các đơn vị phải dam bảo tiết kiệm và hiệu quá. Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả luôn được coi trọng trong công tác tổ chức nói chung và tô chức công tác kế toán ở các DN thương mại nói riêng. Theo nguyên tắc này, tổ chức công tác kế toán phải dam báo khoa học, hợp lý, thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ của kế toán, phát huy đầy đủ vai trò.
tác dụng của kế toán trong công tác quản lý kinh tế, chất lượng công tác kể toán đạt được mức cao nhất với chỉ phí hạch toán tiết kiệm nhất. Nội dung tố chức công tác kế toán trong doanh nghiệp (thương mại Tổ chức công tác kế toán là một hệ thống các yêu tố cấu thành bao gồm nhiều nội dung khác nhau. Tổ chức bộ mắp kế todn Đây là nội dung đầu tiên trong tổ chức công tác kế toán ở các DN. Thực hiện nội đưng này, trước hết phải xác định được mô hình tổ chức bộ máy kế toán phù hợp với đặc điểm của đơn vị.
Sau đó, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, kế toán và nhân viên kế toán, đảm báo sự phối hợp tết nhất giữa các bộ phận và nhân viên kẽ toán trong quả trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Xét cả về lý luận và thực tiễn tổ chức bộ máy kế toán, có thé khái quát thành ba mô hình tố chức bộ máy kế toán, đó là mô hình tô chức bộ máy kế toán phân tán, mô hỉnh tố chức bộ máy kế toán tập trung và mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán. Mỗi một mô hình tổ chức bộ máy kế toán có đặc điểm riêng, thích hợp với từng đơn vị cụ thể, có quy mô và các điều kiện cụ thể khác nhau. a) Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán Theo mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán, ở các đơn vị, cửa hàng phụ thuộc đều có tổ chức kế toán riêng.
làm nhiệm vụ thu nhận. 10 kiểm tra, xử lý chứng từ kế toán, thực hiện kế toán tổng hợp. kế toán chỉ tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở đơn vị phụ thuộc theo sự phân cấp quản lý trong DN, định kỳ lập báo cáo kế toán gửi về phòng kế toán công ty. Phòng kế toán công ty thực hiện việc tổng hợp số liệu, báo cáo của cửa hàng phụ thuộc và hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở văn phòng công ty, lập báo cáo kế toán của toàn DN.
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán trong DN được khái quát trong hinh 1.