Chương 1: Nhiing vén dé chung vé ké todn quan tri Minh hoa 1-2: So dé tổ chức Công ty XYZ _ Ban giám đốc (oD) ----- hủ tịch: - Phó chủ tịch điều Giám đốc tải Mua hang Nhân sự _ hành chính [fy Ngân quỹ Kế toán Cửa hàng trưởng Cda hang trưởng khu vực X khu vực Y Nhóm trưởng mặt hàng XI Nhóm: trưởng mat hàng Y1 Nhóm trưởng mặt hàng X2 Nhóm trưởng mặt hàng Y2 Ngược lại, các nhà quản trị của bộ phận mua hàng và bộ phận quản lý nhân sự được xếp vào các vị trí staf, bởi vì các bộ phận này phục vụ các bộ phận khác, thay vì trực tiếp tham gia vào mục tiêu chính của công ty, đó là bán các mặt hàng X1, X2, Y1, Y2. Tương tự, giám đốc tài chính, mặc dù là thành viên quản lý cao cấp, cũng được xếp vào vị trí siaff bởi vì người này không trực tiếp tham gia vào việc kinh doanh cốt lõi. Giám đốc tài chính chịu trách nhiệm cung cấp đữ liệu kịp thời và phù hợp để phục vụ các mục tiêu chính của công ty, và cũng được hỗ trợ bởi nhóm nhân viên kế toán là những người dành thời gian chủ yếu cho việc phân tích hoạt động kinh doanh. Một số nhân viên kế toán này là nhân viên kế toán quần trị và họ làm việc chặt chẽ với các nhà quản trị ở vị trí line để giúp công ty nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
SO SÁNH GIỮA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ KẾ TOÁN TÀI CHÍNH 1. Những điểm giống nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính se Kế toán quản trị và kế toán tài chính có cùng đối tượng nghiên cứu là các sự kiện kinh tế điễn ra trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. ø Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đâu của kế toán. Kế toán tài chính căn cứ hệ thống ghi chép ban đầu này để xử lý, soạn thảo các báo cáo tài chính cung cấp cho các đối tượng cần thông tin kế 20 toán ở bên ngoài của doanh nghiệp.
Kế toán quản trị căn cứ hệ thống ghi chép ren = ban đâu để vận dụng xử lý nhằm tạo thông tin thích hợp cho các nhà quần trị. = = c = « Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều thể hiện trách nhiệm của nhà re = = VE quản trị trong toàn doanh nghiệp, kế toán quản trị còn thể hiện trách nhiệm œ J b3) = LH của nhà quản trị ở từng bộ phận trong doanh nghiệp. Những điểm khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính = Xa 4 — cd se Đối tượng sử dụng thông tin : = = Fs =cj Đối tượng sử dụng thông tin khác nhau là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến a oO sự khác nhau của kế toán quản trị và kế toán tài chính. Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị chủ yếu là các nhà quản trị ở bên trong doanh nghiệp trực tiếp điều hành sản xuất kinh đoanh, còn đối tượng chủ yếu mà kế toán tài chính cung cấp thông tin là những người bên ngoài đoanh nghiệp quan tâm đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
5© Đặc điểm thông tin và yêu cầu thông tin Thông tin của kế toán quản trị chủ yếu hướng đến tương lai. Nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn các phương án kinh doanh và đưa ra các quyết định một cách kịp thời để nắm bắt nhanh cơ hội kinh doanh, do đó thông tin do kế toán quản trị cung cấp thường mang tính linh hoạt, kịp thời và thích hợp với từng loại quyết định, không tuân thủ theo những nguyên tắc kế toán, và không đòi hỏi có độ chính xác tuyệt đối. Thông tin của kế toán tài chính hướng về quá khứ, phản ảnh những sự kiện đã xảy ra và tuân thủ theo những nguyên tắc kế toán. Thông tin kế toán tài chính đòi hỏi phải phản ảnh một cách trung thực các sự kiện kinh tế đã điễn ra trong quá trình kinh doanh, do đó các thông tin của kế toán tài chính mang tính khách quan và có độ chính xác cao.
e Phạm vi cung cấp thông tin và các loại báo cáo Kế toán quản trị gắn liền với các bộ phận của doanh nghiệp, do đó kế toán quản trị cung cấp các loại báo cáo của mình tùỳ theo nhu cầu và mục đích sử dụng của nhà quản trị cho từng bộ phận trong doanh nghiệp, mà không lệ thuộc vào các quy định về chế độ báo cáo của Nhà nước. Trong khi đó, kế toán tài chính gắn liên với toàn doanh nghiệp và cung cấp cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, do đó báo cáo do kế toán tài chính cung cấp phải tuân theo quy định của nhà nước, bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. e Ky han lập báo cáo Báo cáo của kế toán quản trị được lập một cách thường xuyên và tùy thuộc vào yêu câu quản lý, còn báo cáo tài chính được lập định kỳ theo quy định của chế độ báo cáo kế toán. 21 Chương 1: Những uấn đề chung uề hế toán quản trị e Quan hệ với các ngành học khác Kế toán quản trị mở rộng hơn so với hệ thống kế toán truyền thống và có mối quan hệ với nhiều ngành học khác như quản trị học, tài chính, thống kê.
Kế toán tài chính sắp xếp, ghi nhận, phân tích, trình bày những sự kiện kinh tế đã dién ra trong quá trình kinh doanh bằng những phương pháp cia minh, do đó kế toán tài chính ít quan hệ với các ngành học khác. -- ° Tính bất buộc Tính chất của hoạt động kinh doanh, phương thức tổ chức và trình độ quản lý kinh doanh của từng bộ phận trong doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, do đó báo cáo của kế toán quản trị phải được lập theo yêu cầu quản lý của từng nha quan tri trong từng đoanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định. Vì vậy kế toán quản trị không có tính bắt buộc. Báo cáo kế toán tài chính phải được lập theo quy định của chế độ kế toán thống nhất, do đó kế toán tài chính có tính bắt buộc.
Những điểm khác nhau và giống nhau của kế toán quản trị và kế toán tài chính được tóm t4t qua minh hoa 1.3: So sánh kế toán kế toán quản trị và kế toán tài chính KẾ TOÁN QUẦN TRỊ KẾ TOÁN TÀI CHÍNH Đối tượng sử dụng Các nhà quản trị bên trong Những đối tượng bên ngoài thông tin doanh nghiệp là chủ yếu doanh nghiệp là chủ yếu Hướng về tương lai Phần ảnh quá khứ lảnh hoạt, theo yêu câu của Cố định, tuân thủ nguyên tắc Đặc điểm thông tin nhà quản trị kế toán Biểu hiện thông qua ba loại Biéu hiện chủ yếu đưới thước thước do đo giá trị Đồi hỏi tính kịp thời cao hơn Đời hỏi tính chính xác cao Yéu cầu thông tin tính chính xác. Phạm vi cung cấp Từng bộ phận, toàn doanh Toàn doanh nghiệp thông tin nghiệp Báo cáo theo yêu cầu và mục Báo cáo tài chính do Nhà Các loại báo cáo đích sử dung cia nha quan trị nuée quy dinh Ky han lap bdo cáo | Thường xuyên Dinh ky Quan hệ với các | Quan hệ nhiều Quan hệ ft ngành học khác Tình bắt buộc Không có tính bắt buộc Có tính bắt buộc Rế toán tài chính và kế toán quản trị cùng nghiên cứu quá trình Giống nhau hoạt động, sân xuất kinh doanh, cùng sử dụng hệ thống ghỉ chép ban đầu và cùng thể biện trách nhiệm của nhà quản trị. ĐẠO ĐỨC NGHỆ NGHIỆP CỦA KẾ TOÁN QUẦN THỊ ˆ = a) — = = eeu =} =] Ki Khi thông tin kế toán quản trị được sử dụng cho việc kiểm soát và đặc biệt. cảng ¿8g > =)= là đánh giá hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, các nhân viên kế toán = = = Ấm quản trị có thể bị bối rối khi gặp một số tình huống khó xử.
Áp lực này được a} =_ a] hình thành từ việc phải tạo nên các số liệu về sản phẩm, về khách hàng hoặc c2 ats ae _ một dây chuyển sản xuất kinh đoanh mang đến lợi nhuận nhiều hơn so với thực = ar ee = tế. Áp lực từ việc thay đổi những kết quả được báo cáo sẽ trở nên rất nghiêm =! Ss — trọng khi nó có mối quan hệ với sự đền bù bằng vật chất và sự thăng chức. oO: Sự phản ứng của kế toán viên quản trị đối với các áp lực nói trên phải tùy thuộc sự nhận thức của họ về những quy tắc xử sự và đạo đức nghề nghiệp. Những quy định về đạo đức nghề nghiệp được các doanh nghiệp xây đựng cho cắc nhân viên dựa trên hệ thống giá trị của tổ chức và hệ thống những quy tắc xử sự: e Hệ thống giá trị của tổ chức là nét văn hóa của tổ chức được truyền đạt công khai đến từng cá nhân về nên tảng giá trị, mục đích và phương hướng của tổ chức.
Hệ thống này được sử dụng để định hướng cho hành động của mỗi cá nhân khi có tình huống đối kháng xuất hiện. e Hệ thống các quy tắc xử sự quy định những hành động bị cấm thực hiện trong t@ chic, như vi phạm sự bí mật của khách hàng, của doanh nghiệp, do thám đối thủ cạnh tranh. cũng được thông báo và truyền đạt rõ ràng công khai đến các nhân viên trong tổ chức. Các nhân viên kế toán quản trị phải thực hiện các nhiệm vụ được giao phó một cách tận tâm và không được vi phạm các quy tắc đạo đức mà tổ chức đã để ra, cũng như không được vi phạm luật pháp do Nhà nước quy định.
Nhân viên kế toán quản trị tham giá vào quá trình thiết kế và giám sát hệ thống kiểm soát của tổ chức, hệ thống này sẽ được thông báo một cách rõ ràng đến toàn thể mọi nhân viên trong tổ chức. Họ cũng giám sát cách ứng xử của nhà quản trị cấp cao khi xuất hiện các hành vi vi phạm những chuẩn mực đạo đức. Nếu sự vi phạm này được phát hiện nhưng không ngăn cần được, nhân viên kế toán quản trị có thể truyên đạt tới Ủy ban kiểm soát, Hội đông quản trị. Tháng 08 năm 2005, Hiệp hội kế toán viên quan tri Hoa Ky (IMA) da cong bố “Báo cáo về cách ứng xử đạo đức nghề nghiệp”.
Báo cáo này bao gồm hai phần được trình bày đầy đủ ở Minh hoa 1.