Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP Mục tiêu: Sau khi nghiên cứu chương này người học có thể: - Nắm được khái niệm, đối tượng và nội dung của kế toán quản trị; - Hiểu được vai trò của kế toán quản trị với quản trị trong nội bộ doanh nghiệp; - Nhận thức được những điểm giống nhau và khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị; - Xác định được các nội dung tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp; - Nhận biết được các phương pháp áp dụng trong kế toán quản trị. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm kế toán quản trị Kế toán nói chung đã ra đời từ rất lâu, ngày càng hoàn thiện về nội dung, phương pháp cũng như cách thức thực hiện. Nền kinh tế càng phát triển thì kế toán càng thể hiện được vị thế quan trọng là công cụ không thể thiếu được trong quản lý, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp.
Kinh tế phát triển cùng với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học quản lý, đối tượng sử dụng thông tin kế toán mở rộng bao gồm các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Để đáp ứng được thông tin cho các đối tượng khác nhau đó kế toán được chia thành hai loại là kế toán tài chính và kế toán quản trị. Kế toán quản trị xuất hiện đầu tiên ở Mỹ từ đầu thế kỷ 19 do nhu cầu thông tin quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy 21 mô và phạm vi hoạt động lớn. Mục đích ban đầu là giúp các nhà quản trị doanh nghiệp kiểm soát và đánh giá được hoạt động của đơn vị.
Trong những năm qua kinh tế thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng đã có sự tăng trưởng đáng kể, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường toàn cầu hóa, áp lực cạnh tranh cao đã tạo điều kiện thuận lợi cho kế toán quản trị thay đổi và phát triển mạnh mẽ. Những thay đổi này kéo theo những thay đổi nhất định về quan điểm trong mục đích, khái niệm kế toán quản trị so với thời kỳ đầu mới hình thành. Viện Kế toán viên quản trị Mỹ (IMA) năm 1981 cho rằng “KTQT là quá trình xác định, đo lường, tích lũy, phân tích, chuẩn bị, giải thích và cung cấp thông tin tài chính phục vụ cho nhà quản trị để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm soát một tổ chức, đảm bảo sử dụng hợp lý và trách nhiệm đối với các nguồn lực của nó”. Đến năm 2008, khái niệm đã được điều chỉnh theo hướng giảm tính tuân thủ nhưng tăng tính tư vấn của công việc này: KTQT hỗ trợ cho các quyết định quản trị, lập kế hoạch và thực hiện hệ thống quản trị, cung cấp thông tin trong báo cáo tài chính và kiểm soát để hỗ trợ cho nhà quản lý trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược của tổ chức.
Quan điểm của IMA cho thấy công việc của kế toán quản trị rất gần với công việc quản trị tổ chức. Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) năm 1989 định nghĩa “Kế toán quản trị là quá trình xác định, đo lường, tích lũy, phân tích, chuẩn bị, giải thích và truyền đạt thông tin để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm soát trong một tổ chức, đảm bảo việc sử dụng và trách nhiệm giải trình các nguồn lực của nó”. Theo khái niệm này, kế toán quản trị được hiểu gần như kế toán tài chính, chỉ khác ở mục đích sử dụng thông tin của người nhận là phục vụ cho quản trị nội bộ đơn vị. Năm 1998, IFAC đã mở rộng phạm vi của kế toán quản trị khi xác định đây là một hoạt động đan xen trong quá trình quản lý của tất cả các tổ chức, tập trung vào việc tăng thêm giá trị cho các tổ chức bằng việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.
Với khái niệm này, kế toán quản trị có thể coi là một khâu, bộ phận trong công tác quản lý tổ chức và như vậy đã nâng cao vị thế của KTQT trong các đơn vị nói chung, doanh nghiệp nói riêng. 22 Hiệp hội KTQT công chứng Anh quốc - CIMA (Insight, 2009) định nghĩa kế toán quản trị như là: "một khoa học thực tiễn tạo ra giá trị trong các công ty tư nhân và khu vực công". Khái niệm này cho thấy mục đích chung của kế toán quản trị là tạo ra giá trị nhưng không thể hiện được chức năng cũng như các công việc cụ thể của khoa học này. Đồng thời có thể nhận thấy kế toán quản trị được áp dụng trong doanh nghiệp và cả các đơn vị thuộc khu vực công.
Nhìn nhận kế toán quản trị trên khía cạnh thông tin, Garrison và Norren (2012) cho rằng: "Kế toán quản trị liên quan đến việc cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để sử dụng trong lập kế hoạch, kiểm soát hoạt động và ra các quyết định quản lý tổ chức". Năm 2014, Hiệp hội Kế toán quản trị toàn cầu (CGMA) đã có định nghĩa về kế toán quản trị là: "Việc tìm kiếm, phân tích, truyền đạt và sử dụng thông tin tài chính và phi tài chính liên quan đến quyết định để tạo ra và duy trì giá trị cho các tổ chức". Định nghĩa đã thể hiện sự phát triển của kế toán quản trị khi cho rằng thông tin của loại kế toán này không những gồm các thông tin tài chính mà còn có cả thông tin phi tài chính và cũng cho thấy mục đích của kế toán quản trị là phục vụ cho việc ra quyết định cũng như duy trì giá trị của tổ chức. Quan điểm này có sự khác biệt nhất định với một số quan điểm trước đây là tạo ra giá trị cho tổ chức (IFAC, 1998) thể hiện sự thận trọng khi xác định vai trò của kế toán quản trị.
Tổ chức CGMA (2014) cũng cho rằng:" Kế toán quản trị cung cấp dữ liệu liên quan đến quyết định, phân tích và đánh giá với đủ thông tin để có các quyết định tốt hơn và truyền đạt các quyết định đó với tác động của chúng". Trên góc độ công việc, Luật Kế toán Việt Nam (2003, 2015) quy định: "Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị phục vụ quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán". Khái niệm này tập trung vào công việc của kế toán để có thể cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị nên khó có thể nhận thấy được chức năng tư vấn của kế toán quản trị đối với tổ chức. 23 Ở góc độ khoa học, Giáo trình Kế toán quản trị của Trường Đại học Thương mại (2006) đã xác định: "Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cụ thể phục vụ cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp".
Khái niệm này đã khẳng định kế toán quản trị là một khoa học trong hệ thống các khoa học kinh tế và mục tiêu của kế toán quản trị là phục vụ cho quản trị doanh nghiệp. Từ các quan điểm trên có thể hiểu Kế toán quản trị là khoa học thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính về hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cụ thể phục vụ cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và ra quyết định quản lý trong nội bộ tổ chức nhằm tối ưu hóa các mục tiêu. Tuy có những khái niệm khác nhau về kế toán quản trị nhưng đều thể hiện một số đặc trưng cơ bản như sau: - Kế toán quản trị là một khoa học trong hệ thống khoa học kinh tế với phương pháp thực hiện, đối tượng nghiên cứu và mục tiêu riêng. - Kế toán quản trị là 1 bộ phận của hệ thống kế toán, cung cấp các thông tin định lượng và định tính cho các đối tượng sử dụng trong đơn vị nhằm mục đích lập kế hoạch, kiểm soát và tư vấn cho việc ra quyết định.
Thông qua các công việc để có thông tin kế toán quản trị xác định sự liên kết giữa việc tiêu dùng nguồn lực và nhu cầu tài trợ cũng như nguyên nhân để có cơ sở huy động nguồn lực cho hoạt động. Kế toán quản trị là công việc có tính nội bộ của từng tổ chức, doanh nghiệp là sự chuyên môn hóa kế toán theo những định hướng phản ánh, cung cấp thông tin cụ thể, nên việc triển khai thực hiện trong các đơn vị khác nhau sẽ không giống nhau. Ngoài việc cung cấp thông tin định lượng - thông tin tài chính, kế toán quản trị còn cung cấp các thông tin không thể hoặc khó định lượng - thông tin phi tài chính cho các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp giúp ra quyết định tốt hơn. 24 - Kế toán quản trị hình thành từ nhu cầu thông tin và quan tâm đến các thông tin có ích cho công tác quản trị trong nội bộ đơn vị.
Do đó, người làm kế toán quản trị phải hiểu biết thấu đáo về doanh nghệp cũng như môi trường hoạt động của doanh nghiệp. - Kế toán quản trị vẫn có những đặc điểm chung của kế toán, gắn liền với những quan hệ kinh tế, tài chính, trách nhiệm trong hoạt động của đơn vị, tuân thủ các quy định chung của nhà nước và các cơ quan có liên quan. - Kế toán quản trị được ứng dụng trong mọi lĩnh vực kinh doanh: Sản xuất, thương mại, dịch vụ và trong mọi hình thức tổ chức kinh doanh. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội kế toán quản trị cần thiết với các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và cả với các tổ chức hoạt động phi lợi nhuận cũng như các đơn vị thuộc khu vực công.