Chương 1 TỔNG QUAN VÊ KÊ TOÁN QUỐC TÊ 1. Lịch sử ra đời của kế toán quốc tế 1. Lịch sử hình thành kế toán quốc tế Kế toán được hình thành từ rất lâu trong lịch sử nhân loại, những dấu tích còn lại cho thấy kế toán ra đời từ những năm 4000 đến 3000 năm trước công nguyên. Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người tất yếu dẫn đến hoạt động sản xuất.
Để sản xuất con người phải đo lường được những hao phí của mỗi hoạt động sản xuất và kết quả thu được từ sản xuất. Vì vậy kế toán đã là yêu cầu không thể thiếu được của sản xuất. Và khi sản xuất càng phát triển thì kế toán thực sự trở thành một công cụ quan trọng phục vụ quản lý các hoạt động kinh tế. Khi sản xuất chưa phát triển, nhu cầu sử dụng thông tin chưa nhiều, con người tiến hành phưcmg thức ghi chép hết sức giản đơn để ghi nhận những thông tin cần thiết.
Do trình độ lạc hậu của sản xuất trong giai đoạn này nên xã hội chưa có của cải dư thừa, chưa có hiện tượng người bóc lột người. Bởi vậy trong thời kỳ này, kế toán được sử dụng để phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội. Dưới chế độ phong kiến: Giai cấp địa chủ nắm trong tay những tư liệu sản xuất và bóc lột giai cấp nông nô. Kế toán trong giai đoạn này được sử dụng như một công cụ để tổ chức và lãnh đạo nền kinh té phục vụ cho giai cấp thống trị.
Ngoài lĩnh vực sản xuất, kế toán còn được sử dụng trong các lĩnh vực khác như: Sử dụng trong các phòng đổi tiền để ghi chép các nghiệp vụ giao dịch, sử dụng trong các nhà thờ và trong lĩnh vực tài chính nhà nước. Thời kỳ tư bản chủ nghĩa: Sự phát triển nhanh chóng của thương nghiệp và sau đó là công nghiệp làm cho những quan hệ trao đổi buôn 5 bán được mở rộng, từ đó đặt ra nhu cầu phải hạch toán các mối quan hệ nảy sinh giữa người mua và người bán. Sự vận động của các tư bản cá biệt đã trở thành khách thể quan trọng của kế toán. Đặc biệt, sự vận động và tính phức tạp của các khách thể này đã là nguồn gốc ra đời của phương pháp đối ứng tài khoản trong kế toán.
Cũng trong thời kỳ này, hệ thống các phương pháp của kế toán được hình thành và ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên, dưới chủ nghĩa tư bản, các qui luật kinh tế riêng có của nó đã chi phối mục đích và tính chất của kế toán dưới chế độ xã hội này. Các nhà tư bản đã sử dụng kế toán để theo dõi, phản ánh và kiểm tra quá trình tuần hoàn của các tư bản riêng biệt - tức là quá trình sáng tạo ra giá trị thặng dư cho từng nhà tư bản. Nhà tư bản dựa vào các tài liệu kế toán để tìm ra các biện pháp rút bớt chi phí sản xuất, tăng tốc độ chu chuyển của tư bản để tăng giá trị thặng dư đến mức tối đa.
Do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất dưới chế độ tư bản chủ nghĩa nên kế toán không có tính thống nhất. Nhà nước tư bản chủ nghĩa không cần và cũng không thể lãnh đạo tập trung và thống nhất công tác kế toán. Mặt khác, kế toán tư bản chủ nghĩa cũng không có tính trung thực. Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa dẫn đến “bí mật thương nghiệp”, do đó, nhà tư bản phải giữ bí mật các tài liệu kế toán chân thực.
Tóm lại: Dưới chủ nghĩa tư bản, hoạt động kế toán luôn luôn nằm trong tay giai cấp thống trị và phục vụ lợi ích riêng của giai cấp này. Với chủ nghĩa xã hội: Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, trình độ xã hội hóa ở mức độ cao của nền sản xuất đã và sẽ tạo điều kiện tiền đề cho kế toán phát triển, trở thành môn khoa học, thực sự phát huy được vai trò, vị trí của nó trong quản lý kinh tế. Kế toán phát triển và hoàn thiện dần theo sự phát triển của xã hội loài người. Các nhà khoa học đã phát triển và hoàn thiện dần khoa học kế toán cùng với các công cụ phục vụ cho công tác kế toán.
Ngày nay, kế toán trở thành nghệ thuật của việc ghi chép, phân loại, tổng hợp số liệu các chỉ tiêu kinh tế tài chính bằng tiền và giải thích các sự kiện tác động đến tĩnh hĩnh tài chính của tổ chức kỉnh tế bằng thước đo tiền tệ, nhằm cung cấp thông tin về tình hình và kết quả hoạt động của tổ chức, làm cơ 6 sở cho việc ra quyết định kinh tế liên quan đến mục tiêu quản lý và đánh giả tổ chức. Với xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, hàng loạt các nhân tố quốc tế nảy sinh tác động tới sự thay đổi về kế toán. Sự độc lập về kinh tế, chính trị, đầu tư nước ngoài trực tiếp, các chiến lược kinh doanh đa quốc gia, công nghệ mới, sự mở rộng các dịch vụ tài chính và kinh doanh quốc tế, việc hình thành các tập đoàn theo mô hình công ty mẹ công ty con đa quốc gia, .đòi hỏi sự hài hòa thống nhất về phương pháp trình bày và cách thức sử dụng thông tin kế toán, tài chính giữa các quốc gia. Kế toán quốc tế ra đời tạo ra một ngôn ngữ kế toán chung, thống nhất về phương pháp lập và trình bày thông tin đã hình thành hệ thống khái niệm, nguyên tắc chung tạo ra hệ thống chuẩn mực nghề nghiệp áp dụng cho thực hành kế toán.
Kế toán quốc tế thực sự thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giữa các quốc gia và tạo điều kiện quốc tế hóa đào tạo lao động kế toán mỗi quốc gia không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn của từng quốc gia riêng biệt mà còn có khả năng hội nhập cao tạo điều kiện quan trọng cho quá trình chuyển dịch lao động kế toán giữa các quốc gia. Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tể ỉ. Cơ cấu của Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) là một tổ chức độc lập thuộc khu vực tư nhân, có mục tiêu nhằm đạt được sự thống nhất trong các nguyên tắc kế toán mà các nhà kinh doanh và các tổ chức trên thế giới sử dụng để lập báo cáo tài chính, ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế được thành lập vào năm 1973 dưới sự cam kết của các chuyên gia kế toán của các nước úc, Canada, Pháp, Đức, Nhật, Mexico, Hà Lan, Vương quốc Anh, Allen và Mỹ. Từ năm 1983 các thành viên của ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm toàn bộ các chuyên gia kế toán thuộc thành viên của Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC).
Tính đến tháng 1/1999 số các thành viên đại diện cho hơn 2 triệu chuyên gia kế toán là 142 thành viên thuộc 103 quốc gia khác nhau. Nhiều tổ chức khác đã 7 tham gia cộng tác với ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế đã sử dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế này (IAS). Hiện nay công việc của ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế được điều hành bởi một Hội đồng gồm đại diện của 13 nước thành viên (do Hội đồng của IFAC chỉ định) và trên 4 tổ chức thành viên khác. Các nước thành viên của Hội đồng bao gồm: Mỹ, Canada, Mexico, 5 nước châu Âu (Pháp, Đức, Hà Lan, Liên đoàn Bắc Ẩu, Vương quốc Anh và Allen); 3 nước châu Á (Án Độ, Nhật Bản, Malaysia); Nam Phi và úc.
Mỗi nước thành viên được cử 2 cá nhân và một chuyên gia tư vấn về chuyên môn làm đại diện. Hội đồng có 3 thành viên tuyển cử bổ sung nhàm tạo điều kiện cho Hội đồng có thể mở rộng khu vực bầu cử cho các hiệp hội các nhà phân tích tài chinh đại diện cho những người sử dụng các báo cáo tài chính; Liên đoàn các công ty Quản lý tài chính Thụy Sỹ và Hiệp hội điều hành Tài chính quốc tế đại diện cho những người lập các báo cáo tài chính. Công việc của ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế có thể thực hiện được nhờ sự trợ giúp tài chính từ các thành viên và các tổ chức trong Hội đồng của nó, của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), sự trợ giúp của các công ty, các tổ chức tài chính, các hãng kế toán và các tổ chức khác. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế * Chức năng của Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế thành lập để thực hiện một số chức năng cơ bản là: Thiết lập và công bố những chuẩn mực kế toán quốc tế công khai được xem xét trong việc lập các báo cáo tài chính và khuyến khích sự chấp nhận, xem xét rộng rãi các chuẩn mực đó; Thực hiện một cách thống nhất các quy định, chuẩn mực kế toán và các thủ tục liên quan đến việc lập báo cáo tài chính.
* Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế Để thực hiện được các chức năng cơ bản trên, Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế càn phải có những quyền hạn và nhiệm vụ nhất định, cụ thể: 8 - Được mời khoảng bốn tổ chức có lợi ích liên quan tới việc lập các báo cáo tài chính tham gia phổi hợp với Hội đồng của ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế. - Phát hành các tài liệu liên quan tới các vấn đề kế toán quốc tế để bàn luận và góp ý (đã được phần lớn các thành viên của hội đồng thông qua) trước công luận. - Phát hành những tài liệu trong mẫu của các bản dự thảo trưng cầu ý kiến (kể cả thông báo các chuẩn mực đang có hiệu lực) dưới tên của ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế đã thông qua ít nhất 2/3 thành viên Hội đồng. - Phát hành các chuẩn mực kế toán quốc tế đã được ít nhất % thành viên của hội đồng thông qua.
- Xây dựng các thủ tục hoạt động dài hạn phù họp với điều khoản hiến pháp của ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế. - Tham gia bàn bạc, thương lượng hoặc hợp tác với các tổ chức bên ngoài và khuyến khích sự cải tiến, hoàn thiện các chuẩn mực kế toán.