Chương I GIA ĐÌNH TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI I. KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH Ngay từ buổi đầu của lịch sử, khi con người tách khỏi giới loài động vật, tự tổ chức cuộc sống với tư cách là một cộng đồng độc lập, thì cũng là lúc con người tự tổ chức cuộc sống theo các quy mô cộng đồng nhỏ. Gia đình hình thành như một tổ chức cộng đồng xã hội sơ khai ban đầu đó. Xuất phát từ nhu cầu bảo tồn, duy trì nòi giống, sự cần thiết phải nương tựa vào nhau để sinh tồn, những hình thức cộng đồng có tổ chức đời sống sơ khai ấy lúc đầu chỉ là các thành viên có quan hệ huyết thống (trực hệ) với nhau, chủ yếu là những người mẹ cùng các con, cháu tụ tập lại được gọi là gia đình mẫu hệ.
Về qui mô gia đình, lúc đầu số thành viên quần tụ chỉ vài chục, vài trăm. Nhưng do bị chi phối bởi những biến đổi mạnh mẽ của quá trình sản xuất vật chất, của đời sống kinh tế - xã hội nên số lượng các thành viên trong gia đình giảm dần. Từ đây, mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng trở nên chặt chẽ hơn không còn là sắc thái ban đầu có tính “tự nhiên sinh học” nữa. Trong các gia đình sơ khai bắt đầu xuất hiện những cơ chế ràng buộc lẫn nhau phù hợp với cách thức tổ chức đời sống, sản xuất.
Vì vậy, gia đình trở thành một thiết chế xã hội, một hình ảnh “xã hội thu nhỏ”. Như vậy, gia đình được coi là một thiết chế xã hội đặc thù nhỏ nhất, cơ bản nhất. Tuy nhiên, gia đình không chỉ là một tổ chức cộng đồng, một thiết chế xã hội mà quan trọng hơn, gia đình còn là một giá trị văn hoá xã hội. Tính chất, bản sắc của gia đình lại được duy trì, bảo tồn, sáng tạo và phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của các thành viên trong sự tương tác gắn bó với văn hoá cộng đồng dân tộc, giai cấp, tầng lớp xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia dân tộc xác định.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, đi liền đó là các quan điểm về gia đình chưa hoàn toàn thống nhất với nhau. Văn bản của Liên hiệp quốc “Năm Quốc tế về Phụ nữ và Gia đình” cũng khẳng định không có một định nghĩa áp dụng chung cho toàn cầu về gia đình, nhận thức về vai trò của gia đình cũng thay đổi tuỳ theo nền văn minh. Theo từ điển Tiếng Việt, “Gia đình là tập hợp những người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái”. Quan niệm này chỉ mới dừng lại ở tính phổ quát nhất về các loại gia đình trong lịch sử, đồng thời cũng chưa bao gồm các hình thức gia đình mới đang phát sinh trong xã hội hiện đại ngày nay.
Nho giáo cho rằng, gia đình chính là một nước thu nhỏ. Vì thế, trong “Luận ngữ” Khổng Tử đã dạy: “Một nhà nhân hậu thì cả nước nhân hậu”. “Một nhà lễ nhượng thì cả nước ăn ở đều có lễ nhượng”. “Một người tham lam thì cả nước rối loạn”.
NXB Sự Thật Hà Nội 1984, Tr26 2 muốn thanh bình thì trước hết phải có những gia đình hoà thuận. Muốn có gia đình hoà thuận thì đòi hỏi mỗi người phải biết giữ gìn và tuân theo Lễ. Bởi vì chỉ có Lễ con người mới trở thành con người xã hội. Nho giáo cũng khẳng định, nếu xây dựng gia đình hoà thuận thì đó cũng là làm chính trị rồi.
Bởi nước cũng chỉ là một cái nhà to. Các căn nhà nhỏ-gia đình mà hoà thuận thì căn nhà to cũng sẽ hoà thuận. Vì thế làm chính trị không cứ phải ra làm quan. Ở các nước Phương Tây, những năm gần đây xuất hiện nhiều dạng gia đình biến thái, khiến định nghĩa về gia đình đều trở nên bất cập.
Chẳng hạn, theo tác giả Jame W.Vander Zanden “Một cuộc thăm dò mới đây cho biết 45% người Mỹ ngày nay cho rằng một đôi không cần kết hôn mà cùng chung sống với nhau thì được coi là một gia đình đích thực. 33% coi các đôi cùng giới tính có nuôi con cái là gia đình”. Đây có thể là sự mở rộng thái quá trong quan niệm gia đình (1). Khi nói về gia đình, Các Mác nêu: “… Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở.
Đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”(2).Angghen: Sự xuất hiện và hình thành, phát triển gia đình là do yêu cầu của con người sáng tạo ra những hạt nhân con người, duy trì nòi giống, làm giàu sức lao động của xã hội, cụ thể là do cái ăn, mặc, ở và nhu cầu tái sản sinh để duy trì giống nòi. Như vậy, yếu tố chính trong gia đình là con người. Con người cùng với sự hợp tác tự nhiên, đơn giản đầu tiên nhằm duy trì cuộc sống của chính họ đã tạo ra gia đình. Ở việt Nam, những năm gần đây có nhiều nhà nghiên cứu về gia đình nhất là gia đình hiện đại có đưa ra khái niệm về gia đình.
Theo tác giả Lê Thi: “Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân, đó là cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại). Gia đình có thể bao gồm một số người gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống, các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lực (kinh tế, văn hoá, tình cảm), giữa họ có những ràng buộc về pháp lý được nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật hôn nhân và gia đình ở nước ta). Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên”. (Gia đình Việt nam ngày nay NXB khoa học xã hội 1996) Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng khẳng định: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo luật định”.
Mặc dù có nhiều cách quan niệm khác nhau như vậy, thi hiểu về gia đình đều có những điểm chung nhất: “Gia đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế kinh tế văn hoá- xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục… giữa các thành viên”. (1) Xem Lê Thi “Gia đình Việt Nam hiện nay”. NXB KH XÃ Hội 2002 (2) C.Mac va Ph. NXB Sự thật Hà Nội 1984.
Tr26 3 Như vậy, gia đình khác với tất cả các cộng đồng xã hội khác, nó không chỉ là nhóm Tâm lý - Tình cảm, mà còn là một đơn vị xã hội cơ sở và là một cơ cấu -Thiết chế xã hội, có cơ chế và cách thức vận động riêng. ĐẶC TRƯNG VÀ CÁC QUAN HỆ CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH 1. Hôn nhân và quan hệ hôn nhân Hôn nhân và quan hệ hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng (quan hệ theo chiều ngang). Hôn nhân là tiền đề, là quan hệ nền tảng trên đó thiết kế đời sống gia đình.
Hôn nhân còn là một hình thức quan hệ tính giao nhằm thoả mãn các nhu cầu tâm, sinh lý và tình cảm giữa nam và nữ (giữa chồng và vợ). Vai trò của hôn nhân trong xã hội quy đến cùng là để tái sản xuất ra các chủ thể xã hội là con người, bên cạnh tái sản xuất ra của cải vật chất. Quan hệ này được xã hội thừa nhận dưới nhiều hình thức, với những mức độ, trình độ khác nhau. Trong chế độ tư hữu, sự thừa nhận đó được thực hiện về mặt pháp lý (Pháp luật công nhận) bên cạnh sự công nhận của cộng đồng.
Hôn nhân là hình thức quan hệ tình cảm tính giao giữa con người với con người, nên ngay từ đầu, hôn nhân mang bản chất người, nhân văn, nhân đạo. Sự phù hợp về tâm lý-sinh lý sức khoẻ và nhất là trạng thái tình cảm là cơ sở trực tiếp của hôn nhân. Tuy nhiên, giống như mọi quan hệ xã hội khác, hôn nhân luôn chịu sự chi phối của các quan hệ kinh tế và bản chất chế độ xã hội mà trên đó nó được hình thành và phát triển. Trong lịch sử, hình thức hôn nhân của các gia đình có 2 hình thức cơ bản từ thấp đến cao.Angghen “Gia đình là một yếu tố năng động, nó không bao giờ đứng nguyên một chỗ, mà chuyển từ hình thức thấp lên một hình thức cao” (1).
Như vậy về đại thể, lịch sử đã trải qua 2 hình thức tương ứng với 2 giai đoạn phát triển chính của nhân loại. Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, trình độ sản xuất còn thấp kém, cá nhân không tách rời cộng đồng, cuộc sống quần tụ cộng đồng về nhiều mặt đã tạo nên hình thức gia đình tập thể quần hôn với hình thức đặc trưng như hôn phối tập thể, kinh tế cộng đồng, chế độ mẫu hệ, không có sự phân chia đẳng cấp, mọi thành viên được bình đẳng… Bước sang xã hội chiếm hữu nô lệ, trong xã hội hình thành chế độ tư hữu, lúc này xã hội phát sinh hình thức gia đình cá thể - hôn nhân một vợ một chồng. Gia đình cá thể là “hình thức gia đình đầu tiên không dựa trên những điều kiện tự nhiên mà dựa trên những điều kiện kinh tế, tức là trên thắng lợi của sở hữu tư nhân đối với sở hữu công cộng nguyên thuỷ và tự phát”(2). Như vậy, lần đầu tiên gia đình trở thành một đơn vị kinh tế riêng lẻ, kết cấu và quy mô thu hẹp hơn, quan hệ vợ chồng, cha mẹ, con cái… mang tính phục tùng và bất bình đẳng, sau này được bổ sung bằng nạn ngoại tình và tệ mãi dâm phát triển.
Xen giữa giai đoạn quần hôn còn tồn tại hình thức hôn nhân cặp đôi, giữa giai đoạn hôn nhân cặp đôi và hôn nhân một vợ một chồng là hình thức hôn nhân dựa vào sự thống trị của người đàn ông với phụ nữ, đó là chế độ đa thê (nhiều vợ). NXB Sự Thật.Mac va Ph. NXB Sự thật Hà Nội 1984.