chương 1 nhằm giới thiệu một số khái niệm cơ bản trong dược lý thú y như: dược động học, dược lực học,… Các kiến thức về chỉ định và chống chỉ định, phân biệt giữa thức ăn – chất độc – thuốc cũng như phương pháp học tập của môn học được đề cập đến trong chương này. Mục tiêu - Kiến thức: Giải thích được các khái niệm: thuốc, dược phẩm, dược chất, tác dụng, công dụng,… - Kỹ năng: Phân biệt được dược lực học và dược động học. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Định hướng phương pháp học tập phù hợp. Vị trí và nhiệm vụ của môn học Dược lý là môn học cơ sở nhằm trang bị cho học sinh sinh viên những kiến thức cơ bản về thuốc để vận dụng vào điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm và biết cách bảo quản thuốc.
Sự liên hệ giữa môn Dược lý học với những môn học khác Môn Dược lý học không đứng riêng lẽ mà có liên hệ chặt chẽ với các môn: - Sinh lý học: vận dụng tác động thuốc, hiệu chỉnh chức năng cơ thể. - Sinh hóa: nghiên cứu những biến đổi sinh hóa của cơ thể khi đưa thuốc vào. - Hóa dược học: nghiên cứu tính chất hóa lý của thuốc. - Vi sinh học: Dược lý học những thuốc điều chế từ vaccin hay những loại thuốc tác dụng trên vi khuẩn.
- Độc chất học: nghiên cứu những tính chất độc của thuốc và phương pháp giải độc. - Dược liệu học: nghiên cứu cây cỏ dùng làm thuốc. - Điều trị học: khi điều trị gia súc phải nắm được tính chất, tác dụng của thuốc. Do đó, môn Dược lý học sẽ làm cơ sở vững chắc cho các môn học khác: bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa, sản khoa, ngoại khoa,… 3.
Phương pháp học tập 1 Để học môn Dược lý học được tốt, phải: - Học tập toàn diện, nhưng phải nắm vững những trọng tâm của từng bài. - Học kỹ các tác dụng, công dụng, liều dùng và cách dùng các loại thuốc. - Cần cù, đọc và viết nhiều lần tên thuốc. Phải có tóm tắt so sánh tác dụng các thuốc cùng họ, hoặc các thuốc có tác dụng tương tự.
- Gắn chặt lý luận và thực tế: + Chú ý xem xét về sử dụng thuốc ở chung quanh (thường dùng liều cao hơn liều học). + Nghiên cứu các kinh nghiệm dùng thuốc trong dân gian. Dược lý học là môn học nghiên cứu về những nguyên lý và những qui luật tác động lẫn nhau giữa thuốc và có thể sống. Dược lý học gồm 2 phần cơ bản: dược động học và dược lực học.
Dược động học (Pharmacokinetics) Dược động học nghiên cứu về tác động của cơ thể sinh vật đối với thuốc hay nghiên cứu về số phận của thuốc trong cơ thể, bao gồm các quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa và đào thai thuốc. Dược lực học (Pharmacodynamics) Dược lực học nghiên cứu ảnh hưởng sinh lý sinh hóa của thuốc, cơ chế tác dụng của thuốc đối với cơ thể sinh vật và mối liên quan của thuốc về nồng độ và thời gian với hiệu lực thuốc. Chỉ định và chống chỉ định (indication và contra-indication) Chỉ định: phạm vi sử dụng của một thuốc trong thăm dò, chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh nhất định. Chống chỉ định: không được sử dụng thuốc trong những trường hợp cụ thể để tránh độc tính và các tai biến khi dùng thuốc.
Thức ăn, chất độc, thuốc 2 Thức ăn là vật chất ăn được và được sử dụng làm nguồn cấp năng lượng và dinh dưỡng cho cơ thể sinh vật nhằm duy trì mọi hoạt động và làm cơ thể phát triển. Chất độc là những chất có thể làm hư hỏng, phá hoại cơ năng hay thực thể sống hoặc gây chết. Thuốc là những chất từ bên ngoài đưa vào cơ thể có tác dụng: - Phòng bệnh. - Chữa bệnh: tiêu diệt những chất lạ ảnh hưởng đến quá trình sống và phát triển của cơ thể, hồi phục lại những chức năng sống của cơ thể trong quá trình trao đổi chất, hô hấp, tiêu hóa, bài tiết.
- Chẩn đoán bệnh ở lâm sàng. Tuy nhiên, tác dụng của thuốc (có thể hữu ích hoặc có hại) còn tùy thuộc nhiều yếu tố, quan trọng nhất là liều lượng. Thuốc có nhiều nguồn gốc, có thể lấy từ thực vật, động vật, khoáng chất, nấm, vi trùng hoặc bán tổng hợp hay tổng hợp bằng phương pháp hóa học. Giữa thuốc, thức ăn và chất độc không có ranh giới rõ ràng, thường do nhiều yếu tố quyết định, nhưng quan trọng nhất vẫn là liều lượng sử dụng.
Định nghĩa thuốc? 5. Mỗi loại thuốc có bao nhiêu tên gọi? CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Sự khác biệt giữa thuốc – thức ăn – chất độc. Định nghĩa dược động học và dược lực học.
3 CHƯƠNG 2 SỰ HẤP THU, PHÂN BỐ, BIẾN ĐỔI, THẢI TRỪ THUỐC MH19-02 Giới thiệu Nội dung chương 2 cho biết sự vận chuyển của thuốc, các yếu tố ảnh hưởng sự hấp thu của thuốc,… Các kiến thức về các đường hấp thu của thuốc, sự phân bố của thuốc trong máu và mô cũng như sự chuyển hóa của thuốc trong cơ thể thú được đề cập đến trong chương này. Mục tiêu - Kiến thức: Giải thích được quá trình hấp thu, phân bố và chuyển hóa cũng như sự loại thải của thuốc sau khi vào cơ thể. - Kỹ năng: Phân tích được sự lưu hành, chuyển hóa của thuốc trong cơ thể thú. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Vận dụng kiến thức cho chương tiếp theo.
Sự vận chuyển thuốc qua các màng sinh học Thuốc được đưa vào cơ thể qua nhiều đường cấp thuốc, sau khi hấp thu, phát huy tác dụng dược lý, cuối cùng được loại thải ra ngoài cũng qua nhiều đường. Thuốc để được hấp thu vào cơ thể, đi đến các cơ quan và sau đó thải trừ ra khỏi cơ thể, phải đi qua rất nhiều hàng rào, đó là các màng tế bào hay màng sinh học. Thuốc vận chuyển qua màng bằng nhiều cách: 1. Khuếch tán thụ động Thuốc khuếch tán được là do sự chênh lệch nồng độ giữa 2 bên màng.
Những phân tử thuốc sẽ chuyển từ nơi có nồng độ cao sang nơi có nồng độ thấp. Lọc Màng sinh vật có những ống dẫn xen kẽ các phân tử lipoprotein với đường kính khác nhau tùy loại màng. Những thuốc không tan trong lipid mà tan được trong nước và có phân tử lượng thấp (< 150) sẽ đi qua ống dẫn bằng áp lực lọc. Kết quả lọc phụ thuộc vào đường kính ống dẫn, số lượng ống dẫn và sự chênh lệch nồng độ và bậc thang điện hóa 2 bên màng.
Vận chuyển tích cực Thuốc qua được màng sinh vật phải nhờ chất chuyên chở (carrier) khu trú ở màng tế bào. Nếu sự vận chuyển đồng biến với bậc thang nồng độ và bậc thang điện hoá thì không cần cung cấp năng lượng. 4 Nếu sự vận chuyển ngược với bậc thang nồng độ và bậc thang điện hóa thì cần năng lượng cho quá trình vận chuyển. Sự hấp thu thuốc 2.
Đại cương Sự hấp thu thuốc bao gồm toàn bộ các hiện tượng giúp thuốc thật sự vào cơ thể từ nơi được chọn để đưa thuốc vào. Ngoài cách tiêm thẳng vào mạch máu, thuốc phải qua các màng sinh học trước khi vào hệ thống tuần hoàn. Các yếu tố ảnh hưởng Sự hấp thu thuốc phụ thuộc nhiều yếu tố: - Dạng bào chế của thuốc: có thể làm tăng hay giới hạn sự hấp thu (dạng thuốc, tá dược, dung môi pha thuốc). - Hoạt chất: ảnh hưởng bởi kích thước, hệ số phân tán trong nước và dầu, mức độ ion hóa, pH của môi trường,.
của các phân tử có hoạt tính. - Nồng độ thuốc được cấp. - Lưu lượng máu đưa đến chỗ cấp thuốc. Cơ chế làm trống dạ dày và hiệu ứng của sự vượt qua lần đầu (liên quan đến thuốc uống: cơ chế đưa thuốc từ dạ dày xuống tá tràng).
Các đường hấp thu của thuốc a) Sự hấp thu qua da (percutaneous absorption) Thuốc khuếch tán thụ động qua biểu bì, tuyến bã, nang lông và tuyến mồ hôi. Thuốc muốn hấp thu được qua da phải tan nhiều trong lipid. Nhưng để hấp thu được tốt hơn phải có chỉ số tan trong lipid/nước thích hợp. Xoa bóp mạnh hoặc dùng thuốc giãn mạch tại chỗ hoặc dùng phương pháp ion di (iontophoresis) làm tăng tốc độ hấp thu.
Các chất qua được mặt da vào cơ thể bao gồm iod, muối kim loại nặng, alkaloid, hormone, các steroid, vitamin tan trong dầu,. b) Sự hấp thu thuốc qua đường tiêu hóa (Per os, P.O) - Ở miệng: có sự hấp thu của thuốc qua niêm mạc miệng, nhưng do cấu tạo của niêm mạc miệng và thời gian thuốc nằm ở miệng không lâu, nên sự hấp thu thuốc ở miệng không đáng kể. - Ở dạ dày: sự hấp thu rất hạn chế, vì hệ thống mạch máu ở niêm mạc ít nên máu lưu thông ở đây ít và có nhiều cholesterol. Dịch vị rất acid (pH = 1,2-3,5) nên thường chỉ hấp thu được các thuốc là acid yếu, càng hấp thu tốt nếu phần thuốc không ion hóa này có hệ số phân tán lipid/nước cao.
Thuốc dễ hấp thu khi dạ dày trống. 5 - Ở ruột non: niêm mạc ruột non là nơi hấp thu rất quan trọng vì có diện tích tiếp xúc rất lớn và hệ thống máu lưu thông nhiều. Ruột non còn là màng sinh lý rất hoạt động có khả năng chọn lựa những chất thẩm thấu qua màng. Thường màng cho qua được những thuốc không ion hóa và dễ tan trong lipid.
Ruột non là nơi thuốc hấp thu tốt nhất, nhưng không phải là nơi hấp thu hoàn hảo, vì ruột non còn là nơi chứa nhiều enzyme phân hủy các thuốc. Ngoài ra, khi đến gan tế bào gan có thể làm biến chất một số thuốc, nên gan cũng ngăn cản hiệu năng hấp thu thuốc qua đường tiêu hóa. Tuy nhiên, cũng có những thuốc nhờ tác động của các enzyme đường tiêu hóa mà trở nên chất có hoạt tính hơn. Sau khi uống thuốc khoảng 30-90 phút thấy có hiện diện thuốc trong máu.
Thuốc hấp thu nhanh lúc bụng trống. - Ở ruột già: năng lực hấp thu ở ruột già kém hơn ruột non. Nhưng nếu đặt thuốc đạn vào trực tràng, do nồng độ đậm đặc nên thuốc hấp thu với lượng đáng kể, tác dụng mạnh hơn khi uống. Đặt thuốc ở trực tràng thuốc vẫn qua gan được.
c) Sự hấp thu qua các màng nhầy khác Ngoài màng nhầy ở đường tiêu hóa, thuốc còn có thể được hấp thu qua các màng nhầy khác như: - Kết mạc: nhỏ thuốc vào mắt thấm qua kết mạc và giác mạc. - Màng nhầy mũi và yết hầu: cho thuốc vào đường này khi muốn có tác dụng tại chỗ.