CHƯƠNG 1 1. Nêu khái niệm về mức kinh tế kỹ thuật và định mức kinh tế kỹ thuật. Nêu các cách phân loại mức kinh tế kỹ thuật. Nêu vai trò của mức kinh tế kỹ thuật.
Nêu các nhân tố ảnh hưởng đến mức kinh tế kỹ thuật. Nêu nhiệm vụ của định mức kinh tế kỹ thuật. Nêu các nguyên tắc, yêu cầu của định mức kinh tế kỹ thuật. Nêu các luận điểm thuộc về phương pháp luận định mức kinh tế kỹ thuật.
Nêu khái quát các phương pháp định mức kinh tế kỹ thuật. TÀI LIỆU THAM KHẢO - PGS. Ngô Thế Bính (2008), Bài giảng Định mức lao động, Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Đặng Đình Đào, GS.
Trần Chí Thành, TS. Phan Tố Uyên (2006 và 2012), Giáo trình Định mức kinh tế kỹ thuật- Cơ sở của quản trị kinh doanh, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân. Nguyễn Bá Vỵ, PGS.TS Bùi Văn Yêm (2009), Giáo trình Lập định mức xây dựng, NXB Xây dựng. - Thông tư số 47/2018/TT-BCT ngày 15/11/2018 Quy định việc xây dựng, thẩm định và ban hành mức kinh tế - kỹ thuật về dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước áp dụng trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công thương.
19 PHẦN B: ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG Mục đích của chương: Cung cấp cho người đọc một số kiến thức cơ bản làm cơ sở để tiến hành định mức lao động. Nội dung của chương: Giới thiệu khái niệm, phân loại mức lao động; Giới thiệu về cách phân đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ra thành các đơn vị nhỏ phục vụ cho công tác thu thập thông tin về hao phí thời gian lao động. MỨC LAO ĐỘNG VÀ PHÂN LOẠI MỨC LAO ĐỘNG 2. Nguồn gốc của mức lao động Lịch sử phát triển xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất.
Khi sản xuất càng phát triển thì trình độ xã hội hoá của sản xuất càng được nâng cao, sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và sự hợp tác trong lao động ngày càng chặt chẽ, đòi hỏi phải xác định được thước đo hao phí lao động trong quá trình sản xuất và mức lao động ra đời. Các hình thức sơ khai của mức lao động đã được xuất hiện trong thời kỳ công trường thủ công. Cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, mức lao động phát triển mạnh ở nhiều lĩnh vực sản xuất và kéo dài đến ngày nay. Bởi vì, vào thời kỳ này nền đại công nghiệp máy móc xuất hiện làm phức tạp những hoạt động kinh tế.
Các xí nghiệp lớn không thể hoạt động được nếu không đồng bộ hoá chặt chẽ công việc của nhiều bộ phận, nhiều loại cán bộ và công nhân có trình độ và tay nghề khác nhau. Mặt khác trong điều kiện sản xuất lớn, vấn đề quan trọng là phát hiện và tuân thủ những cân đối khách quan đặt ra giữa nhiệm vụ sản xuất và các yếu tố đầu vào của sản xuất như sắp xếp lượng lao động thích ứng với các thiết bị kỹ thuật hiện tại … Để giải quyết những vấn đề quan trọng này cần áp dụng mức lao động. Chỉ có trên cơ sở những mức hao phí lao động sống mới có thể xác định được những cân đối sản xuất, bố trí và kế hoạch hoá lao động tối ưu. - Người đầu tiên sáng lập ra định mức lao động có căn cứ khoa học là một kỹ sư người Mỹ F.
Ông đã phân tích những động tác trong quá trình lao động, từ bỏ những động tác thừa và vụng về, xây dựng những phương pháp công tác hợp lý nhất, áp dụng chế độ hoàn thiện nhất trong việc kiểm kê, kiểm soát trong điều kiện sản xuất hàng loạt nhỏ và đơn chiếc. - Người tiếp theo là 2 vợ chồng ông F. Họ đã nghiên cứu trong điều kiện sản xuất hàng khối, sản xuất dây chuyền, trong đó nhịp độ công tác để thực hiện từng thao tác phụ thuộc vào nhịp độ cả dây chuyền. - Trong những năm chiến tranh thế giới lần I, ở Mỹ xuất hiện chế độ Fo.
Nội dung của nó là phát triển trên nguyên tắc của Taylor kết hợp với nghiên cứu chi tiết công nghệ của quá trình sản xuất, sử dụng bấm giờ để định mức. Ngoài ra còn có rất nhiều các nhà khoa học khác như: Bare, Tomxon, Manstinber - người Mỹ và Gatchiep, Eromauxki, Ketgienxep - người Liên Xô cũ cũng đã có nhiều đóng góp trong lĩnh vực này. 20 Ở Việt Nam, trong những năm bắt đầu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần I (1961- 1965) cũng đã chú ý đến công tác này. Từ đó đến nay, công tác định mức lao động đã được chú ý nghiên cứu và ngày càng hoàn thiện đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu quản lý lao động trong thực tế.
Một số văn bản pháp quy mà Nhà nước đưa ra để quản lý công tác định mức có thể kể tới như: (1) Thông tư số 06/2005/TT-BLDTBXH năm 2005 về Hướng dẫn xây dựng mức lao động trong các công ty Nhà nước để thi hành Nghị định số 2006/2004/NĐ-CP về Quản lý lao động, tiền lương và thu nhập trong các công ty Nhà nước; (2) Điều 93 đến điều 188 của Bộ luật Lao động năm 2012; (3) Nghị định số 49/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tiền lương, trong đó có Điều 8 quy định về định mức lao động; (4) Nghị định số 121/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2013/NĐ-CP. Khái niệm về mức lao động Mức lao động là phân hệ của các mức kinh tế kỹ thuật, gồm những thông tin dùng để biểu thị lượng hao phí lao động cần thiết lớn nhất để sản xuất đơn vị sản phẩm (hoặc thực hiện một khối lượng công tác) bảo đảm những yêu cầu nhất định về chất lượng và phù hợp với những điều kiện khách quan về tự nhiên, công nghệ kỹ thuật và tổ chức quản lý. Phân loại mức lao động Với định nghĩa trên, các mức lao động là một tổng thể phức tạp của nhiều loại mức với nhiều đặc điểm. Tuy nhiên, phân loại các mức lao động căn cứ vào nội dung kinh tế được thể hiện như sau: a.
Các mức năng suất lao động * Mức sản lượng (mức năng suất) (Mn) Là thông tin biểu thị số lượng sản phẩm (hay khối lượng công tác) nhỏ nhất mà người lao động phải thực hiện trong đơn vị thời gian lao động đảm bảo những yêu cầu nhất định về chất lượng và phù hợp với những điều kiện khách quan về tự nhiên, công nghệ kỹ thuật và tổ chức quản lý. Đơn vị tính: sản phẩm (m, kg, m3…) /1 đơn vị hao phí thời gian (ng-ca, ng-giờ, ng-phút…). * Các hệ số thay đổi mức sản lượng do các nhân tố ảnh hưởng Là các thông tin nhằm điều chỉnh tăng hoặc giảm mức sản lượng khi điều kiện làm việc thực tế có sự thay đổi khác với điều kiện ghi trong quá trình xây dựng mức nhằm làm cho mức đảm bảo tính tiên tiến và hiện thực. Đây là dạng đặc biệt của mức sản lượng.
Các mức hao phí lao động * Mức thời gian (Mt) Là thông tin biểu thị lượng hao phí lao động cần thiết lớn nhất để sản xuất ra đơn vị sản phẩm (hoặc thực hiện một khối lượng công tác) đảm bảo những yêu cầu nhất định về chất lượng và phù hợp với những điều kiện khách quan về tự nhiên, công nghệ kỹ thuật và tổ chức quản lý. Mức thời gian là đại lượng nghịch đảo của mức sản lượng. Đơn vị tính: thời gian lao động (ng-ca, ng-giờ, ng-phút.) /1 đơn vị sản phẩm (m, kg, m3…). * Các hệ số định biên công nhân viên chức 21 Là thông tin nhằm điều chỉnh tăng thêm lao động cho quá trình sản xuất so với mức biên chế số người 1 nơi làm việc để đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục và đảm bảo chế độ nghỉ ngơi cho người lao động theo Luật lao động quy định.
Đây cũng là dạng đặc biệt của mức hao phí lao động. Mức năng suất thiết bị và định biên lao động Là thông tin biểu thị số lượng lao động cần thiết có mặt tại 1 nơi làm việc (hoặc một hệ thống máy móc thiết bị) đảm bảo cho quá trình sản xuất bình thường theo yêu cầu của công nghệ, kỹ thuật và phù hợp với điều kiện tổ chức quản lý cũng như trình độ của người lao động nhằm tạo ra lượng sản phẩm nhất định theo khả năng của thiết bị (hoặc tổ hợp thiết bị), công nghệ đã được thiết kế sẵn. Đơn vị tính: Khối lượng công việc tính cho thiết bị (hoặc tổ hợp thiết bị) (m, kg, m3…)/ca máy; còn số công nhân phục vụ được định biên số người/1 ca máy. PHÂN ĐOẠN QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 2.
Khái niệm và ý nghĩa của phân đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quá trình sản xuất kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào cũng là một hệ thống phức tạp của nhiều quá trình lao động mang những đặc điểm tương đối độc lập với nhau về người lao động, đối tượng lao động, không gian, thời gian. nhưng vẫn thống nhất với nhau bởi mục tiêu sản xuất ra những sản phẩm (dịch vụ) hàng hoá nhất định bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội. Vì vậy, chỉ khi công tác định mức được gắn liền với việc nghiên cứu đặc điểm quá trình sản xuất, phân chia nó một cách cụ thể, chính xác thì mức mới có căn cứ khoa học được. Đó chính là phân đoạn quá trình sản xuất kinh doanh.
Phân đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là cách thức chia tổng thể quá trình sản xuất thuộc đối tượng quản trị của doanh nghiệp thành các quá trình đơn vị nhỏ (phần tử) căn cứ vào một số đặc điểm nhất định để vạch ra cấu trúc hệ thống sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc phân đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm cơ sở cho việc tìm hiểu cặn kẽ đặc điểm của từng quá trình sản xuất bộ phận, mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận với nhau và tổng thể quá trình sản xuất để có thể tổng hợp, thống kê chính xác hao phí lao động trong công tác định mức.