UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI TỔNG CỤC DẠY NGHỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TÊ Bộ môn Điều dưỡng các bệnh chuyên khoa Thạc sỹ TRẦN CHUNG ANH GIÁO TRÌNH MÔN HỌC ĐIỀU DƯỠNG CHUYÊN KHOA RĂNG HÀM MẶT Đối tượng: Cao đẳng Điều dưỡng CHƯƠNG TRÌNH CHI TIẾT HỌC PHẦN:Chủ CHUYÊN KHOA biên: Th.S Trần HỆ NGOẠI Chung Anh ( Dành cho đối tượng caoBiên đẳngsoạn: BS. Hoàng điều dưỡng Thị chính quy và Đợi vừa học vừa làm) Hà nội 4/2019 Hà Nội 20 - 4 - 2020 1 MỤC LỤC STT TÊN BÀI Trang Bài 1: Đặc điểm giải phẫu, sinh lý răng và vùng quanh răng – 1 thời gian mọc và thay răng Bài 2: Thực hiện kế hoạch chăm sóc người bệnh sâu răng và dự 2 phòng sâu răng. Bài 3: Chăm sóc người bệnh viêm tủy và viêm quanh cuống 3 răng. 4 Bài 4: Chăm sóc người bệnh viêm quanh răng.
5 Bài 5: Chăm sóc người bệnh trước và sau nhổ răng. Bài 6: Chăm sóc người bệnh phẫu thuật khe hở môi và vòm 6 miệng. Bài 7: Một số sơ cấp cứu người bệnh chấn thương vùng hàm 7 mặt. Tổng 2 Bài 1: ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU SINH LÝ RĂNG VÀ VÙNG QUANH RĂNG – THỜI GIAN MỌC VÀ THAY RĂNG Thời gian: 3 tiết Mục tiêu: *Kiến thức: 1.
Mô tả được hình thể ngoài, cấu tạo trong của răng. Mô tả được giải phẫu sinh lý của lợi, dây chằng, xương ổ răng và xương răng. Trình bày được ký hiệu thông dụng của răng sữa và răng vĩnh viễn. Trình bày được thời gian mọc răng sữa và răng vĩnh viễn * Kỹ năng: 5.Vẽ và chú thích được những thiết đồ đã học về giải phẫu răng và các thành phần của vùng quanh răng.
* Năng lực tự chủ: 6.Tự thu thập thông tin và thảo luận nhóm 1. Hình thể ngoài của răng: Nhìn phía ngoài mỗi răng có cấu tạo gồm 3 phần: Thân răng, chân răng và đường cổ răng nằm giữa thân răng và chân răng. + Thân răng: Được men răng bao phủ, là phần răng nhìn thấy được trên cung hàm. + Chân răng nằm trong xương ổ răng có hệ thống dây chằng quanh răng bám vào giúp cố định chân răng trong xương ổ răng.
Bề mặt chân răng được Cement bao phủ (xương răng). Hình 1: Mô phỏng răng hàm lớn hàm trên. Hình 2: Thiết đồ cắt đứng dọc qua răng hàm lớn hàm dưới *Cổ răng: Trên mỗi răng có hai danh từ cổ răng: Cổ răng sinh lý và cổ răng giải phẫu. 3 - Cổ răng sinh lý được giới hạn bởi phần bờ lợi viền xung quanh cổ răng.
Lúc này phần răng nhìn thấy được trong miệng được gọi là thân răng lâm sàng. Cổ răng sinh lý thay đổi tuỳ thuộc vào lợi tự do và lợi bám dính. Tuổi càng cao thì vị trí bám của bờ viền lợi càng có xu hướng thấp dần về phía chóp răng. - Cổ răng giải phẫu: Chỉ nhìn thấy khi lợi đã bị co ngót, xương ổ răng đã bị tiêu xương, là đường cong cố định tạo bởi đường nối giữa men và Cement.
Đây là nơi rất dễ bị thương tổn do lớp men và Cement phủ ngoài mỏng hơn so với ở thân răng và chân răng. Cấu tạo trong của răng: 2. Men răng: Bao phủ mặt ngoài thân răng, có nguồn gốc từ ngoại bì, và là một tổ chức cứng nhất của cơ thể. - Tỷ lệ chất vô cơ: 96%, chất hữu cơ và nước: 4%.
- Tính chất lý học của men răng: Nhẵn bóng, trong suốt, rất giòn và cản quang. Bình thường nếu ngấm vôi tốt qua lớp men mỏng nhìn thấy lớp ngà ở trong nên thấy màu trắng ngà. Qua lớp men dầy và ngấm vôi không đều thì thấy men có màu xám hoặc trắng xanh. - Tính chất hoá học của men răng: Chủ yếu là Ca10 (PO4)6 (OH)2 và một số muối Cacbonat: MgCO3 Chlorua, Sulfat natri, Sulfat kali.
Thành phần hữu cơ chiếm rất ít chủ yếu là các acide amin như: Histidin, Lysin, Arginin,… - Tổ chức học: Men răng được cấu tạo từ các trụ men hình lăng trụ được bao bọc bởi chất hữu cơ. Trên kính hiển vi điện tử thấy: Một trụ men được cấu tạo từ nhiều trụ nhỏ có chiều rộng từ 500 – 1000A0, chiều dài khoảng 3000 – 5000 A0. Hướng của trụ men thường thẳng đứng với ngà răng, trên núm răng hướng của trụ men giống như nan hoa bánh xe mà tâm là sừng tuỷ. Hướng trụ men ở cổ răng hàm cũng khá thẳng đứng đối với ngà răng.
Bên ngoài men có phủ một lớp hữu cơ gọi là màng thứ phát, trong đời sống men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi, nhưng lại có sự trao đổi về vật lý và hóa học với môi trường miệng, tuổi càng cao men răng càng cứng và giòn. Đó là do các tinh thể sắp xếp lại sát nhau hơn, mặt khác men răng được ngấm các chất vi lượng, chủ yếu là Fluor. Fluor có trong nước uống và kem đánh răng làm cho Apatit chuyển thành Fluor Apatit cứng chắc hơn. - Trên thiết đồ cắt đứng dọc răng thấy: Độ dầy của men răng không đồng đều, ở phía mặt nhai độ dày men khoảng 2.5mm, trong khi ở phía cổ răng hay ở các rãnh phía mặt nhai độ dầy men chỉ khoảng 1mm.
Ngà răng: Ngà răng nằm trong lớp men, có nguồn gốc từ trung bì và kém cứng hơn men răng. 4 + Tính chất của ngà: Màu vàng nhạt, không trong, không bóng như men răng. + Tính chất hoá học: Tỷ lệ chất vô cơ chỉ chiếm 70%, chất hữu cơ và nước chiếm 30%. Thành phần chủ yếu là chất keo Collagen.
Tổ chức học: Tuỳ theo giai đoạn xảy ra sự tạo ngà mà có sự thay đổi quan trọng về mặt cấu trúc: Có hai loại tổ chức ngà: 2. Ngà tiên phát: Là lớp ngà được tạo nên trong quá trình hình thành răng, chiếm khối lượng chủ yếu của răng gồm: Ống ngà, chất giữa các ống ngà và dây Tomes. + Ống ngà: Xuất phát từ bề mặt tủy chạy suốt chiều dày của ngà và tận cùng ở đường ranh giới men ngà. Các ống ngà thường chạy song song với nhau nhưng không bao giờ chạy theo một đường thẳng mà thường gấp khúc (đặc biệt ở vùng cổ răng).
Ở ngà thân răng : Các ống ngà thường có dạng hình chữ S. Ở ngà chân răng: Các ống ngà thường khá thẳng. Ngoài ra còn có các ống ngà phụ và các nhánh nối. + Chất giữa các ống ngà (ngà gian ống): Là thành phần các chất hữu cơ có cấu trúc sợi, chủ yếu là các sợi keo xếp thẳng góc với các ống ngà.
+ Dây Tomes: Nằm trong ống ngà, là các đuôi nguyên sinh chất của các tế bào tạo ngà đảm bảo cho sự trao đổi chuyển hoá và khả năng tạo ngà. Chiều dài của đuôi Tomes từ 2 – 5mm, trên đường đi chúng cho các nhánh bên để đi vào ngà gian ống. Ngà thứ phát: Được hình thành ở giai đoạn răng đã được hình thành, gồm hai loại: - Ngà thứ phát sinh lý: Hình thành liên tục trong suốt thời kỳ tồn tại của răng với nhịp độ rất chậm. - Ngà thứ phát bệnh lý: Hình thành bởi quá trình bệnh lý của răng, ví dụ: do sâu răng, mòn răng do tạo hình lỗ sâu, mài răng trong quá trình điều trị.
Tuỷ răng: Là một khối tổ chức nằm trong hốc tủy răng, chứa mạch máu và đầu tận cùng thần kinh làm nhiệm vụ duy trì sự sống cho răng (là sự sống của nguyên bào ngà, tạo ngà thứ phát) đồng thời nhận cảm giác của răng. Trên thiết đồ bổ dọc răng thấy: + Tủy răng có hình thể tương ứng với hình thể ngoài của răng gồm hai phần: - Tủy răng trong buồng tủy gọi là tủy thân (tuỷ buồng), ở các răng nhiều chân, tủy buồng có trần và sàn buồng tủy. - Tủy răng trong ống tủy gọi là tủy chân. + Tổ chức học: Gồm các thành phần sau: 5 - Thành phần tế bào: Nguyên bào ngà, nguyên bào sợi, tế bào chưa biệt hoá, tế bào bảo vệ.
- Thành phần sợi và các chất căn bản: Gồm các lưới sợi và các bó sợi Collagen. Chất căn bản có dạng gel, bao bọc lưới sợi và các tế bào, chứa nhiều nước, các Glucoprotein… + Mạch máu: Đi vào tủy qua lỗ chóp răng, được điều hoà kiểm soát thông qua sự điều hoà co mạch của hệ giao cảm. + Thần kinh: Đi vào tủy qua lỗ chóp răng cùng với mạch máu, bao gồm cả sợi có Myeline và sợi không có Myeline. - Sợi có Myeline: Từ thần kinh tam thoa, có đầu tận cùng tự do có vai trò ghi nhận cảm giác đau của răng.
- Sợi không có Myeline: Chi phối các cơ trơn của thành mạch, điều hoà sự co mạch. * Sinh lý học của tủy: - Tạo ngà: Biệt hoá lớp tế bào ngoại vi trở thành lớp tế bào tạo ngà. - Đảm bảo sự trao đổi chuyển hoá trong các tổ chức răng. - Chống đỡ, bảo vệ.
- Cảm giác cho răng. Ký hiệu cung hàm: Được ký hiệu bằng hai đường thẳng vuông góc với nhau giới hạn nên 4 cung hàm và qui ước như sau: * Đối với răng vĩnh viễn: Hình 3: mô tả mặt ngoài thân răng 6 Hình 4: Sơ đồ răng vĩnh viễn Trong đó: 1 là cung hàm trên bên phải 2 là cung hàm trên bên trái. 3 là cung hàm dưới bên trái. 4 là cung hàm dưới bên phải.
Ví dụ: Ký hiệu răng số 3 hàm trên bên phải là: R13 5 6 3.2 Đối với răng sữa: 8 7 Trong đó: 5 là cung hàm trên bên phải. 6 là cung hàm trên bên trái. 7 là cung hàm dưới bên trái. 8 là cung hàm dưới bên phải.
Cách gọi tên răng: Một đường thẳng tưởng tượng đi qua điểm giữa hai cung mày, qua đỉnh mũi, qua khe hở răng cửa giữa hàm trên và hàm dưới, chia khuân mặt thành hai nửa đối xứng, đếm thứ tự số răng từ giữa ra sau bên phải giống bên trái. Hàm trên đếm giống như hàm dưới. Đối với răng vĩnh viễn: Răng cửa giữa là 1, răng cửa bên là 2, răng nanh là 3, răng hàm nhỏ thứ nhất là 4, răng hàm nhỏ thứ hai là 5, răng hàm lớn thứ nhât là 6, răng hàm lớn thứ hai là 7, răng hàm lớn thứ ba là 8. Đối với răng sữa: 7 Răng cửa giữa là 1, răng cửa bên là 2, răng nanh là 3 răng hàm thứ nhất là 4, răng hàm thứ hai là 5.
Khi đọc hoặc viết tên răng bao giờ cũng đọc tên cung hàm trước rồi mới đến số răng. Ví dụ: - Đối với răng vĩnh viễn: R 11: Là răng cửa giữa hàm trên bên phải. R 24: Là răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên bên trái.