đặt vấn đề như trên. Giáo trình cũng nhằm làm giảm nhẹ thời gian học lí thuyết trên lớp, tạo điều kiện cho SV bắt đầu quá trình tự đào tạo sớm hơn. SV tham gia vào các hoạt động học tập trực tuyến sẽ hình thành động cơ và thái độ học tập đúng đắn, kịp thời điều chỉnh cách học, bổ sung kiến thức nhằm đạt được kết quả cao trong học tập và nghiên cứu. “Xây dựng và sử dụng giáo trình điện tử “Bản đồ học” trong các trường Đại học Sư phạm miền núi phía Bắc” là đề tài nghiên cứu, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo về “Bản đồ học”, góp phần phát triển phương thức đào tạo trực tuyến trong các trường ĐHSP miền núi phía Bắc, tạo cơ hội học tập bình đẳng cho SV khắp mọi miền đất nước, nhất là SV miền núi.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Xây dựng giáo trình điện tử “Bản đồ học” phục vụ đào tạo giáo viên Địa lí hệ Đại học miền núi phía Bắc theo quan điểm đổi mới dạy học Đại học. Tổ chức cho SV ngành Địa lí các trường ĐHSP miền núi phía Bắc sử dụng GTĐT trong quá trình học tập, nghiên cứu học phần “Bản đồ học”. Góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo giáo viên Địa lí ở các trường ĐHSP miền núi phía Bắc trong xu thế phát triển của Khoa học – Kĩ thuật. Nhiệm vụ nghiên cứu Xác định các quan điểm, luận điểm lí thuyết nhằm lí giải cho quá trình xây dựng, tổ chức sử dụng GTĐT “Bản đồ học”.
Xác định khả năng xây dựng và tổ chức sử dụng GTĐT “Bản đồ học” trong các trường ĐHSP. 3 Xây dựng GTĐT “Bản đồ học” đáp ứng Chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phù hợp với chương trình đào tạo của các trường ĐHSP miền núi phía Bắc, kế thừa những kiến thức Bản đồ học cơ bản, bổ sung vào giáo trình những kiến thức hiện đại của khoa học Bản đồ trên thế giới. Nội dung và kết cấu chương trình đáp ứng các yêu cầu của đào tạo theo hệ thống tín chỉ, đồng thời có thể sử dụng có hiệu quả cho đào tạo trực tuyến. Xây dựng Website Đào tạo trực tuyến, địa chỉ: http://www.
Tổ chức một số hình thức dạy học tích cực sử dụng GTĐT “Bản đồ học”. Thực nghiệm sư phạm và điều tra chất lượng GTĐT. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: GTĐT dùng cho đào tạo trực tuyến dành cho đối tượng là SV ngành Địa lí hệ Đại học thuộc các trường ĐHSP miền núi phía Bắc. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài luận án giới hạn trong phạm vi xây dựng GTĐT “Bản đồ học” cho một số trường ĐHSP, một số đơn vị đào tạo giáo viên THPT ngành Địa lí khu vực miền núi phía Bắc.
Tổng quan về lịch sử nghiên cứu 4. Sơ lược lịch sử nghiên cứu, phát triển “Bản đồ học” 4. Sơ lược lịch sử nghiên cứu, phát triển “Bản đồ học” trên thế giới a) “Bản đồ học” thời cổ đại Bản đồ đã xuất hiện từ lâu trước Công nguyên, qua nghiên cứu, đã phát hiện một số bản đồ cổ trên thế giới: Bản đồ biểu thị thung lũng sông được tìm thấy ở Gasur (phía Bắc Babylon) có niên đại khoảng 2.500 năm trước Công nguyên, Bản đồ các mỏ khai thác vàng ở Ai Cập có từ 1.400 năm trước Công nguyên được tìm thấy ở Ai Cập,. Những bản đồ đạc điền đầu tiên được những người Ai Cập cổ đại thể hiện ở vùng thung lũng sông Nile.
Đóng góp đáng kể nhất thuộc về những người cổ Hy - Lap mà tấm bản đồ đường xá kích thước 6,32m x 0,33m là một minh chứng. Thời kì này có nhiều nhà Địa lí - Bản đồ nổi tiếng: Anaximander (610 - 546 TCN), Eratosthenes (276 - 194 TCN), Strabo - (Strabonis) (63 TCN - 21 SCN) xây dựng lưới chiếu hình trụ giữ khoảng cách và đưa ra cách thể hiện các đối tượng địa lí (ngôn ngữ bản đồ), K. Thế kỉ XV - XVI, các cuộc thám hiểm lớn như Cristop Côlông (1492 -1504) tìm ra châu Mỹ. Vasco da Gama (Vacco de Gama) (1497 - 1499) phát hiện thêm các chi tiết bờ biển Nam Phi trên đường sang Ấn Độ.
Magellan (1519 - 1522) thám hiểm vòng quanh thế giới, đã cho nhiều hiểu biết để vẽ bản đồ các châu lục và thế giới. Sự phát triển của Thiên văn học, Toán học, Vật lý học, Địa lí học và các ngành kĩ thuật, đặc biệt là ngành In (1456) đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của “Bản đồ học”. Thế kỉ XV, Italia đã xây dựng bản đồ châu Phi bằng những kí hiệu quy ước tạo nên biến đổi về chất trong biểu hiện bản đồ. Nhà Bản đồ học người Hà Lan G.
Gerardus Mercator (thể kỉ XVI) xây dựng bản đồ châu Âu, chữa những chỗ sai trên bản đồ của K., được coi như người sáng lập ra ngành Bản đồ học thời hiện đại. [21, 128] c) Bản đồ học thời kỳ hiện đại Cuối thế kỉ XVIII, một số nước châu Âu đã thành lập cơ quan bản đồ nhà nước, như: Anh (1791), Pháp (1817), xuất hiện các bản đồ tôpô và việc xây dựng hệ thống Tam giác đạc Quốc gia, làm cơ sở khống chế toạ độ thống nhất Quốc gia như ở Na Uy (1779 - 1882), Thụy Điển (1805 - 1919),… Một số nước đã thành lập bộ bản đồ toàn quốc tỉ lệ lớn như Nhật Bản (1:50.000),… Thế kỉ XVIII có nhiều công trình toán bản đồ của các nhà Toán học, Bản đồ học như: Bonn, J.Gauss (1775- 1855),…, góp phần nâng cao tính chính xác của bản đồ. 5 Thế kỉ XIX, nhiều Elipsoid Trái Đất được công bố (Everest 1830, Bessen 1841, Klark 1880,. Thế kỉ XX nhiều phép chiếu bản đồ tốt được ứng dụng rộng rãi (Gauss, Universal Transverse Mercator - UTM,.
Phương pháp đo vẽ bản đồ địa hình bằng hình ảnh hàng không chính thức được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Đầu thế kỉ XX, thành lập các bản đồ toàn cầu: Bản đồ quốc tế tỉ lệ 1:1.000 do Hội Địa lí Thế giới đề xướng, đến năm 1978 đã có khoảng 900 mảnh phủ trùm hầu hết Trái Đất. Năm 1974, sau một thời gian hợp tác với nhau, các nước Xã hội chủ nghĩa ở châu Âu đã hoàn thành bộ Bản đồ thế giới với tỉ lệ 1:2.000 gồm 224 mảnh phủ trùm cả Trái Đất (cả lục địa và các đại dương). Các ngành khoa học về Trái Đất như: khoa học Địa chất, khoa học Khí hậu, Thủy văn, Địa mạo,…, phát triển nhanh chóng, đã đặt ra cho khoa học Bản đồ những nhiệm vụ mới, các đối tượng và nội dung biểu hiện không chỉ giới hạn ở thể hiện những đối tượng cụ thể phân bố trên mặt đất, mà nghiên cứu, thể hiện cả những đối tượng, hiện tượng không nhận thức trực tiếp được bằng các giác quan thông thường của con người, hay những hiện tượng, đối tượng nằm sâu trong lòng đất, trên bầu khí quyển và cả ở các thiên thể khác.
Ngày nay, nhờ những thành tựu phát triển của khoa học, công nghệ đặc biệt là sự phát triển của Công nghệ Thông tin (CNTT) ứng dụng cho “Bản đồ học” và khoa học Địa lí, như Hệ thông tin Địa lí (Geography Information System - GIS), Hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System - GPS), đo vẽ bản đồ bằng phương pháp Viễn thám (Remote Sensing - RS), các phần mềm thiết kế bản đồ và bản đồ số,…, đã thúc đẩy khoa học Bản đồ phát triển nhanh chóng và mở ra nhiều hướng nghiên cứu, đạt được những bước tiến mới. Sản phẩm bản đồ ngày nay ngày càng đa dạng về thể loại, nội dung và hình thức trình bày, chính xác về biểu hiện, xuất bản nhanh chóng, thông tin được cập nhật thường xuyên, sử dụng thuận tiện, lưu hành dễ dàng. Sơ lược lịch sử nghiên cứu, phát triển “Bản đồ học” ở Việt Nam Hiện nay những tư liệu bản đồ hoặc những công trình có liên quan đến đo vẽ bản đồ ở các thời kì lịch sử khác nhau của nước ta thu thập được còn rất ít và tản mạn, chỉ có 6 thể sử dụng như những tư liệu minh chứng cho quá trình đo vẽ và phát triển của ngành “Bản đồ” của nước ta. Năm 43 sau Công Nguyên, đã tiến hành dựng các mốc đồng dọc biên giới và năm 724 đã đo vẽ bản đồ để đắp cao hệ thống phòng thủ Đại La.
Tác phẩm bản đồ tiêu biểu có giá trị khoa học nhất còn để lại đến nay là tập Hồng Đức bản đồ được thành lập năm 1490, ở triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Về cơ sở lí luận, thế kỉ thứ XVIII, Lê Quý Đôn (1726-1783) trong bộ sách Kho hiểu biết quý giá gồm 9 tập đã dành 1 tập viết về Bản đồ cùng với 2 tập khác viết về Vũ trụ và Địa lí Năm 1650 Alexandre De Rhodex thành lập bản đồ Vương quốc An Nam, năm 1666 nhà hàng hải Pieter Goos lập bản đồ Bờ biển An Nam. Cuối thế kỉ XIX, Pháp lập bản đồ Hàng hải Nam Kỳ (1818), bản đồ Địa lí An Nam (1838), bản đồ Nam Kỳ tỉ lệ 1: 125. Trong những năm 1874 - 1875, Pháp lập mạng lưới tam giác đạc Bắc Bộ với đường đáy qua Đồ Sơn.
Năm 1881 xuất bản bản đồ toàn Đông Dương của Dutreull Rhin với các địa danh được Pháp hoá. Pháp đã thành lập cơ quan chuyên trách ở Hà Nội trực thuộc quân đội và Văn phòng Đo đạc Ban tham mưu quân đội viễn chinh Đông Dương và tổ chức các cuộc khảo sát, đo đạc bản đồ trên toàn Đông Dương, xác lập hệ thống khoá tam giác - cơ sở khống chế đo vẽ chi tiết địa hình và thành lập hệ thống bản đồ địa hình. [21, 107] Sau cách mạng tháng 8/1945, ngày 25/09/1945, Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập Phòng bản đồ Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngày 14/12/1959, thành lập Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng, nay là Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Bộ Tài nguyên - Môi trường.
Những công trình trọng điểm về đo đạc, bản đồ đã hoàn thành: Ngày 12/07/2000, áp dụng Hệ quy chiếu và Hệ tọa độ quốc gia VN-2000 và công bố sử dụng thống nhất trên toàn quốc.000, bộ bản đồ biên giới Việt - Trung (2000) tỉ lệ 1: 50 000. Xây dựng 3 trạm GPS cố định 7 tại Lai Châu, Hà Giang và Cao Bằng phục vụ công tác phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc.