Chương 1 «HỮNG VẤN DỂ CHUNG VỂ BỊA LÝ KINH 1ÍVIỆT NAM l. l Một số khái niệm Không gian: (rong thc giới tự nhiên, trong đời sống xã hội cũig nlnr trong hoạt động tư duy cùa con người luôn luôn tồn tại, hoit động và phát triển, hai quá trình đối lập nhau: quá trinh phân hoi và quá trình tồng hợp hoá. Dó là hai mặt của sự vận động thòng nhất cùa thế giới vật chất. Dưới góc độ không gian, quá trình phân hoá trong tự nhiên dẫi đến sự xuất hiện các thành tố tự nhiên, các tổng thể tự nhiên nung những đặc trưng khác nhau, với những quy mô khác nhau.
Đói lượt mình, bên trong các thành tố và tổng thề tự nhiên ấy lại diễn ra quá trinh tổng hợp hoá. Sự vận động kết hợp, thống nhất của ha quá trình này tạo ra các không gian đa dạng, muôn màu, muôn vẻ về chiều dài, chiều rộng và chiều sâu. Các không gian đó thường duợc hiểu như là các không gian địa lí được xác định bởi các tọa độ khác nhau. Các quá trình phân hoá và tổng hợp hoá tồn tại một cách khách quan, bên ngoài ý chí cùa con người và hoạt động liên tục, vì cáo mục đích phát triển, trước hết là phát triển kinh tế - xã hội, con người cần phải nhận thức vận dụng các đặc điểm và quy luật hình thình, hoạt động cùa các loại hình không gian địa lí nói trên.
lãnh thổ: lãnh thổ là một thực thể hay một hệ thống tự nhiên, kinh tế - xã hội. Đó là một bộ phận của bề mặt trái đất (là một không gian địa lí xác định) thuộc quyền sở hữu của một quốc gia nhất định, được xác định bời một vãn bản pháp quy. Lãnh thổ được giới hạn trong biên giới quốc gia. Lãnh thổ bao gồm cả đất liền, vùng biển, lãnh hải, khoảng không gian trên đất liền và trên vùng lãnh hải.
Người ta cũng có thế quan niệm lãnh thố nhir là một thể thống nhất, một thực thể đirợc cấu trúc và tổ cliírc bởi các cộng đồng xã hội. Lãnh thố là một thực thể không gian, ở đó có các yếu tố tự nhiên và là nơi sinh sống của một cộng đồng xã hội được cộng đồng này chiếm giữ đế bảo đảm cung cấp các nhu cầu thiết yếu và sự tái sinh sản của cộng đồng đó. Cộng đồng xã hội có những hành vi tác động vào tự nhiên, trực tiếp tổ chức kinh tế - xã hội cho phù hợp với hoàn cảnh chính trị và phát triến kinh tế - xã hội cùa quốc gia trong từng thời kỳ. Như vậy, lãnh thổ được xem xét với tir cách là đối tượng cùa tổ chức lãnh thổ knh tế - xã hội.
Không gian kinh lé: trong lý thuyết kinh tế vùng, không gian có thể được tiếp cận theo hai hirớng khác nhau. Hirớng thứ nhất coi không gian như là nguồn lực tự nhiên cung cấp “đầu vào” cho các quá trình kinh tế, cung cấp các điều kiện sống cho con người với tư cách là yếu tố quan trọng và quyết dịnh của các quá trinh kinh tế. Hướng thứ hai xem không gian nhu là một trớ lực, ngăn cán các hoạt động bình thường, đều đặn của các quá trình kinh tế cần được khắc phục. Chẳng hạn, khoảng cách xa từ nơi khai thác và cung cấp nguyên vật liệu đến nơi sản xuất, từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ sản pham sẽ làm tăng chi phí, tăng giá thành hàng hoá và dịch vụ.
Cấu trúc không gian của mối quan hệ giữa các hoạt động phát triển cùa con ngirời nói chung và hoạt động kinh tế nói riêng cũng có hai diện mạo: mô hình vật chất và mô hình vận động. Mô hình vật chất bao gồm sự sắp xếp không gian cho việc định cư của con người, các điều kiện thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh, việc sử dụng đất đai và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, xây dựng và phát triển nguồn lự c. Mô lìỉnh hoạt động bao gồm các dòng chu chuyên lao động, vốn hàng hoá, dịch vụ và thông tin đế liên kết các phân tử vật chất nói trên. Trong cả hai trường hợp của hai mô hình nói trên, người ta thường sử dụng phương pháp phân tích kinh tế đế định vị các tác nhân kinh tế và xác định các hình thức tố chức các hoạt động kinh tê phù hợp.
Như vậy, không gian kinh tế đirợc hỉnh thành khi áp dụng 12 các biến số kinh tế vào một không gian địa lí cụ thổ để mô tả và phàn tích các quá trinh kinh tế diễn ra trong đó. Ở mức độ nào đó, không gian kinh te là không gia trừu tượng. Tùy theo các mục ticu mà ta muốn nghiên cứu hay khảo sát nhằm rút ra tính quy luật nào đó về phát triển kinh tế. Trong phạm vi lãnh thổ cùa một quốc gia, có tliể có các loại không gian kinh tế sau: Không gian kinh tế được xác định bởi kế hoạch mà các khoảng cách trong không gian này được đo bằng giá cả và chi phí, tức là được xác định bởi các yếu tố bên ngoài kế hoạch.
Không gian kinh tế được xác định như là trường lực, bao gồm các trung tâm (các cực) mà từ đây các lực ly tâm lan tỏa ra ngoại vi và từ ngoại vi các lực hướng tâm hướng tới. Không gian kinh tế được xác định như là một tổ hợp dồng nhất mà trong không gian này các hãng, công ty, doanh nghiệp khác nhau được dịnh vị gần như nhau và giá cả hàng hoá, dịch vụ được đặt ra ở mức xấp XI nhau đối với tất cả các khách hàng ở trên cùng một khoảng cách vật lý. Kinh lế lãnh thỏ: là tổng thể các dơn vị kinh tế và các mối quan hệ kinh tế thuộc các ngành khác nhau, các thành phần kinh tế khác nhau với quy mô trinh độ kĩ thuật khác nhau được phân bố trên một đơn vị lãnh thổ thuộc một cấp chính quyền như tỉnh, huyện quản lí. Tổng thể kinh tế của một đơn vị lãnh thổ có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau vói tồng thể kinh tế của các vùng kinh tế lớn nhằm bảo đàm sự phát triển kinh tế chung của cả nước và bảo đàm sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên tại chỗ và tiếp nhận từ bên ngoài, bảo vệ và cải tạo môi trường thiên nhiên xung quanh trên cơ sở khắc phục những mâu thuẫn giữa ngành và ngành, giữa ngành và lãnh thổ, giữa lãnh thổ và lãnh thổ; nó xoá bỏ tình trạng phân bổ riêng lẻ, phân tán, mỗi đơn vị kinh tế khép kín trong hàng rào của mình, thiếu mối quan hệ hợp tác sử dụng công suất, nhiên liệu, phế liệu, năng lượng, cơ sở hạ tầng và sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành.
13 Tống thể kinh tế vùng kinh tế lớn có inức độ khác với tổng thể kinh tế một đơn vị lãnh thố ờ chỗ nó phản ánh tính chất, quy mô và tầm quan trọng quốc gia của các vấn đề được giải quyết khi hình thành, phản ánh ý nghĩa kinh tế và xã hội của quan điểm tổng hợp đối với việc khai thác kinh tế những vùng lãnh thổ rộng lớn của đất nước, phân bố trong phạm vi những đơn vị lãnh thổ cùa các tỉnh, thành phố. Trong chi đạo sản xuất, mỗi tỉnh, huyện phải góp phần thực hiện hướng phát triển của vùng kinh tế lớn này, để kinh tế các tỉnh, huyện vừa phát triển mạnh, vừa góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế chung của vùng và cùa cả đất nước. Việc quy hoạch kinh tế lãnh thổ có tầm quan trọng đặc biệt đối với sụ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nội dung quy hoạch kinh tế lãnh thổ bao gồm những mặt chủ yếu: cơ cấu sản phẩm, sản phẩm hàng hoá xuất khẩu của các vùng kinh tế; cơ cấu sức lao động và dân cu xã hội, cơ sở hạ tầng, khoa học - công nghệ; cơ cấu và phân bố các đơn vị kinh tế, chính sách kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
Việc quy hoạch kinh tế lãnh thổ các vùng phải dựa vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và dựa vào các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội của các vùng, lãnh thổ. Định hướng phát triển kinh tế các vùng lãnh thổ là phát huy các thế mạnh kinh tế tự nhiên, tài nguyên, khí hậu, xã hội và nhân văn của các vùng để xác định quy hoạch, cơ cấu ngành kinh tế, thành phần kinh tế thích hợp để có hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Địa lý kinh tế: hoạt động kinh tế là bộ phận rất quan trọng cấu thành nên xã hội loài người, hoạt động đó không thể xảy ra ngoài không gian sống của con người, đó chính là môi trường địa lí. Lãnh thổ và hoạt động kinh tế của con người luôn có mối quan hệ qua lại lẫn nhau.
Địa hình, điều kiện tự nhiên của lãnh thổ sẽ quy định, ảnh hưởng và tác động một cách ràng buộc chặt chẽ đến loại hình, kết cấu, xu hướng phát triển và sắc thái của nền kinh tế. Bới vậy, để có hoạt động kinh tế, thỉ cần hiểu biết về lãnh thổ nơi diễn ra các hoạt động kinh tế. 14 Địa lí kinh tế, ra đời từ nửa sau thế kỷ 18 (khoảng những năm 176(), do các nhà kinh tế học phương Tây, trong quá trìnli bắt đầu nghiìn cứu kinh le loàn cầu đã phát hiện ra rằng, địa lí của vùng, lãnli thổ ảnh hưởng rất mạnh đến đặc thù và sự phát triển kinh tế. Từ có, họ nhận ra rằng không thể hiểu toàn diện về lĩnh vực kinh tế nếu như không nghiên cứu địa lý kinh tế.
Theo quan điểm ngày nay, Địa lí kinh tế là môn Khoa học xã hội, nghiên cứu các hệ thống lãnh thổ kinh tế xã hội nhằm rút ra những đặc điểm, quy luật hỉnh thành và hoạt động của chúng để \ận dụng vào tổ chức không gian (lãnh thổ), tối ưu các hoạt độn* kinh tế xã hội trong thực tiễn [24], 1. Đối tưọng nghicn cửu môn học Đối tượng nghiên cứu cùa địa lí kinh tể là các hệ thống lãnh thổ únh tế - xã hội và sự phân bố sản xuất ở các nước các vùng, với nhũng đặc điểm phát triển riêng của mỗi nước, mỗi vùng trong từng giai đoạn phát triển kinh tế.