CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY LUẬT SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HE SAN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIEN CUA LỰC LƯỢNG SAN XUẤT 1. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUY LUẬT Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định, “Phương thức sản xuất biểu thị cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giải đoạn lịch sử nhất định"(12,433|. Phương thức sản xuất đồng vai trò quyết định đổi với tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao, "Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng" | L1, 351].
Khái niệm lực lượng sản xuất Thuật ngữ “lực lượng san xuất” lần đầu tiên được C.Mác nêu lên trong tắc phẩm “Hệ tư tưởng Đức”. Và những nội dung của khái niệm được ông phát triển sâu sắc thêm trong các tác phẩm “Sự khốn cùng của Triết học”, “Lao động làm thuê và tư ban", “Tiền công giá cả và lợi nhuận”, đặc biệt là trong bộ “Tư ban”. Thông qua việc phân tích các yếu tố của quá trình sản xuất, C.Mác đã cung cấp cho chúng ta cơ sử khoa học để hiểu đúng nội dung của khái niệm lực lượng sản xuất, đó là co sở khoa học cho việc nhận thức bản chất, động lực của sự phát triển xã hội thông qua lao động của con người. Khi phân tích sự phat triển của lịch sử, C,Mác là người đầu tiên phát hiện ra rằng tiền để đầu tiên của mọi sự tổn tại của con người và do đó là tiến dé của mọi lich sử; đó là người ta có khả năng sống đã rỗi mới có thể “làm ra lịch sử”, Nhưng SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Phương Trang 7 GVHD: TS Lê Đức Sơn KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP muốn sống được thì trước hết cẩn phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa.
Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất 3,268]. Lao động sản xuất là hoạt động đặc trưng riêng của con người. Đó là hoạt động cơ ban nhất, quyết định sự tổn tại và phát triển của xã hội. Bằng lao động, von người làm ra lịch sử của mình.Mác viết: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người ta và giới tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, diéu tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” 5, 260].
Nghĩa là muốn tổn tại và phát triển, con người phải trao đổi chất với tự nhiên, nhưng muốn duy trì được sự trao đổi với tự nhiên, con người phải tiến hành sản xuất, Có thể nói, lịch sử của loài người là lịch sử phát triển sản xuất. Trong quá trình sản xuất, như đã trình bày ở trên con người nhất thiết phải quan hệ với tự nhiễn. Mối quan hệ giữa con người với tự nhién trong quá trình sản xuất được gọi là lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực chinh phục tự nhiên của con người, nó là một chỉnh thể thống nhất giữa con người và các vật thể tự nhiên mà họ chiếm giữ được và sử dụng vào quá trình sản xuất.
Để làm rõ bản chất khái niệm lực lượng sản xuất cần phải xác định được cdc yếu tố cấu thành và sự tác động qua lại của các yếu tố đó trong lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất được hiểu là "sự thống nhất hữu cơ giữa tư liệu sản xuất (trước hết là công cụ lao động) và những người sử dụng các tư liệu này dé sẵn xuất ra của cải vật chất” | L5, 281]. Trong bộ “Tu bản” C.Mác đã xác định các yếu tế cấu thành lực lượng sản xuất của xã hội bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất bao gdm tư liệu lao đông và đối tượng lao động còn tư liệu lao động lại bao gồm công cu lao động và phương tiện lao động khác, Các yếu tố này có quan hệ tác động qua SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Phương Trang 8 GVHD: TS Lẻ Đức Sơn KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP lại hiện chứng lẫn nhau trong đó người lao động đóng vai trò quyết định nhất còn tư liệu sản xuất đóng vai trò hàng đầu, Con người trong lực lượng sản xuất bao gồm cả sức mạnh thể lực và trí lực.
kết hợp với những phương tiện lao động và công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao đông tạo ra của vật chất. Con người đã cải tạo, biến đổi những vật của tự nhiên cho phù hợp với hoạt động sản xuất của mình để trở thành những phương tiện, công cụ hữu hiệu. Con người là một động vật biết chế tạo công cụ lao động. Nhữ thé con người đã làm cho “một vật do bản thân tự nhiên cung cấp đã trở thành một khí quan của sự hoạt động của con người, khí quan mà con người đem chấp vào những khí quan của cơ thể mình, và do đó mà kéo dài cái tẩm thước tự nhiên của cơ thể đó.
Trong các yếu tổ vật thể của lực lượng sản xuất, đối tượng lao động là bộ phan giới tự nhiên mà hoạt động lao động con người nhằm tác động vào, làm biến đổi chúng, tạo thành của cải vật chất để phục vụ cho mục đích của mình. Do vậy nó phụ thuộc rất nhiều vào những tác động của yếu tố con người và các công cụ, phương tiện lao động mà con người có được, sử dụng để tác động vào làm chuyển biến chúng thành những sản phẩm hữu ích. Đối tượng lao động không chỉ là bộ phận của giới tự nhiên ma còn là sản phẩm lao động của con người, Ngày nay, với sự phát triển của khoa học- kỹ thuật và công nghệ thì các sản phẩm do con người làm ra trở thành đối tượng lao động ngày càng nhiều. Và khi tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt thì vai trò đối tượng lao động của các sản phẩm do con người làm ra ngày càng được phát huy.
Trong các yếu tố của tư liệu lao động, công cụ lao động là yếu tố cơ bản nhất, nó bao gom các vật thể, hay phức hợp các vật thể có tác động dẫn truyền tác động của con người vào đối tượng lao động, làm tăng hiệu lực của tác động đó, Do đó, công cụ lao động được xem như là hệ thống xương cốt và bắp thịt của sản xuất, là phương tiện lao động mà thiếu nó quá trình san xuất không thể nào tiến hành được. SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Phương Trang 9 GVHD: TS Lẻ Đức Sơn KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Bởi vì,cun người thường xuyên cải tiến công cụ và sáng tạo ra những công cụ lao động mới tinh vi và hiện đại nhằm giảm nhẹ mức độ nặng nhọc và tăng năng suất lao đông. Chính sự biến đổi và hoàn thiện không ngừng công cụ lao động đã làm hiển đổi toàn bộ tư liệu sản xuất của lực lượng sản xuất và đó cũng là nguyên nhân sâu xa của mọi hiến đổi xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chỉnh phục tự nhiên, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử.
"Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gi, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nao, với những tư liệu lao động nào” | 9, 629}, Tất cả tư liệu lao động déu từ những vật liệu của tự nhiên nhữ lao động của con người mà được hình thành và phát triển. Chúng là kết quả hoạt động thực tiễn của con người. Nhưng đến lượt mình, các tư liệu lao động là điều kiện không thể thiếu được để con người tiến hành lao động, phát triển sản xuất và rèn luyện, phát triển ban than con người với tư cách là một lực lượng sản xuất. Diéu đó chứng tỏ các yếu tố của lực lượng sản xuất có quan hệ tác động qua lại biện chứng, lực lượng sản xuất là một thể thống nhất hữu cơ.
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn.Mác kết luận việc biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp là một quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. Ngày nay, với sự phát triển hết sức mạnh mẽ của khoa hoc, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, diéu dự đoán thiên tài của C.Mác dang trở thành hiện thực. La sự hiểu biết của con người về thế giới khách quan, nên khoa học thuộc "Văn hoá biết”. Lao động sản xuất là hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo thế giới của con người nên thuộc vẻ “Van hoá làm”.
Từ “biết” đến “làm” có sự gắn bó thống nhất với nhau, tuy có khoảng cách nhất định nhưng tuyệt nhiên không có bức tường rào ngăn cách. Khoảng cách đó được rút ngắn đến dau là tuỳ thuộc ở trình độ phát triển của nên sản xuất xã hội, của kỹ thuật, công nghệ và của khoa học. SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Phương Trang 10 GVHD: TS Lê Đức Sơn KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực liếp vì: Khoa học được con người vận dụng vào hoạt động sản xuất vật chất, được vật chất hoá trong các thao tác lao động, dem lại những hiệu quả nhất định. Sự phát triển của khoa học đã là nguyên nhãn trực tiếp của mọi biến đổi to lớn trong sản xuất, quản lý, điểu khiển các quá trình công nghệ tạo ra những ngành sản xuất mới, hiện đại, những lĩnh vực kỹ thuật mũi nhọn, những phương pháp sản xuất mới, những nguon nang lượng mới với hang loạt vật liệu mới nhân tạo có tác dụng vô cùng to lớn, nhiều mặt ma các cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật ở những thé kỷ trước không thể có được.
Có thể nói, chưa bao giờ tri thức khoa học được vat hoá, kết tỉnh, thâm nhập vào các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ nhanh và có hiệu quả như ngày nay. Khoa học không còn là yếu tố lý thuyết đứng ngoài qua trình sản xuất vật chất như là nhãn tố “xdc tác” mà trở thành mặt bên trong của hệ thống sản xuất vật chất. Ngày nay, không chỉ có khoa học tự nhiên, mà cả khoa học xã hội cũng tham gia mạnh mẽ và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.