Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử do C. Mác khởi xướng, trọng tâm là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đóng vai trò thế giới quan và phương pháp luận nền tảng trong nghiên cứu đời sống xã hội. Quy luật này mang tính khách quan, phổ biến, chi phối sự vận động của mọi phương thức sản xuất trong lịch sử. Đối với Việt Nam – một quốc gia bước ra từ chiến tranh, vừa phải khắc phục hậu quả xung đột vừa xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội – việc nhận thức và vận dụng quy luật có ý nghĩa sống còn.

Thực tiễn giai đoạn mười năm sau ngày thống nhất đất nước (1975–1985) cho thấy nhiều khuyết điểm trong hoạch định kinh tế. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã thẳng thắn chỉ rõ việc đánh giá tình hình kinh tế - xã hội có nhiều thiếu sót; công tác lãnh đạo chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; nhận thức về thời kỳ quá độ mang nặng tính chủ quan, duy ý chí, dẫn đến sự kìm hãm lực lượng sản xuất và đẩy đất nước vào khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài. Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc nghiên cứu thấu đáo lại quy luật nhằm tránh lặp lại sai lầm quá khứ và hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh là yêu cầu có tính thời sự cao.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các nội dung lý luận cơ bản của quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, từ đó phân tích quá trình nhận thức và vận dụng quy luật của Đảng trong công cuộc đổi mới, củng cố bài học tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm hai điểm:

  1. Tìm hiểu một số vấn đề lý luận quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
  2. Tìm hiểu quá trình nhận thức và vận dụng quy luật trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cùng thực tiễn vận dụng quy luật này. Phạm vi không gian đặt tại Việt Nam; phạm vi thời gian tập trung vào thời kỳ đổi mới (từ Đại hội VI năm 1986 đến thời điểm thực hiện đề tài năm 2005), đồng thời khảo sát có hệ thống tiến trình lịch sử từ năm 1930 đến trước đổi mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận và tư liệu của khóa luận dựa trên:

  • Các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong hệ thống tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen và V.I. Lênin, tiêu biểu là Hệ tư tưởng Đức, Sự khốn cùng của triết học, Lao động làm thuê và tư bản, Tiền công, giá cả và lợi nhuận, Bộ Tư bản, và Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.
  • Hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội và vai trò của khoa học, kỹ thuật.
  • Đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ: Luận cương chính trị tháng 10/1930, Văn kiện Đại hội II (1951), Đại hội III (1960), Đại hội IV (1976), Đại hội V (1982), Đại hội VI (1986), Đại hội VII (1991), Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 7 khóa VII (1994), Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001) và Hội nghị Trung ương 6 khóa IX (2002).
  • Khung tài liệu tổng quan kế thừa các công trình nghiên cứu của Liên Xô trước đây (Kolesov, 1973; A.Iu. Vôđôpianôva, 1987; Iu.C. Pletrikov, 1987) và các luận án, chuyên khảo tại Việt Nam (Nguyễn Tĩnh Gia, 1987; Trung Giang Vim, 1988; Bùi Chí Kiên, 1997; Lê Thanh Tùng, 1989; Hoàng Bình và Lê Văn Dương, 1990; Phạm Thị Quý, 2000; Hồ Anh Dũng, 2002; Lương Xuân Quỳ, 2002).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai bao gồm phương pháp biện chứng duy vật kết hợp với các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, hệ thống hóa, khái quát hóa, diễn dịch và quy nạp. Nguồn dữ liệu sử dụng là dữ liệu thứ cấp trích dẫn từ các văn kiện Đảng, tài liệu điều tra thống kê doanh nghiệp (kết quả điều tra toàn bộ doanh nghiệp ngày 01/04/2001) và các báo cáo ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Chương này tập trung làm rõ các khái niệm bản chất, mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành phương thức sản xuất và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật:

  • Khái niệm lực lượng sản xuất (LLSX): Lực lượng sản xuất thể hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất, phản ánh năng lực chinh phục tự nhiên của xã hội. Cấu trúc LLSX gồm người lao động (sức mạnh thể lực, trí lực) và tư liệu sản xuất (tư liệu lao động và đối tượng lao động). Trong đó, người lao động giữ vai trò quyết định nhất, còn công cụ lao động (thuộc tư liệu lao động) giữ vai trò cơ bản, là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên và tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế. Khóa luận phân tích luận điểm của C. Mác về việc biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp: khoa học từ chỗ thuộc "văn hóa biết" đã thâm nhập, vật chất hóa vào "văn hóa làm", trở thành nhân tố bên trong của hệ thống sản xuất vật chất.
  • Khái niệm quan hệ sản xuất (QHSX): Là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, gồm ba mặt: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm. Trong đó, quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định, quy định mục đích sản xuất và địa vị của các giai cấp; tuy nhiên, quan hệ tổ chức quản lý và phân phối có tính độc lập tương đối, tác động trực tiếp và nhanh chóng đến tâm lý, lợi ích của người lao động.
  • Mối quan hệ biện chứng: LLSX là nội dung động, thường xuyên biến đổi cách mạng; QHSX là hình thức xã hội có tính ổn định tương đối. Khi LLSX phát triển đến một trình độ nhất định, QHSX cũ từ "hình thức phát triển" sẽ biến thành "xiềng xích" kìm hãm. Sự thay thế QHSX cũ bằng QHSX mới giải phóng LLSX, thiết lập phương thức sản xuất mới. Sự phù hợp và không phù hợp luôn đan xen, chuyển hóa lẫn nhau theo tiến trình biện chứng.
  • Hệ thống 7 tiêu chuẩn đánh giá sự phù hợp của QHSX đối với LLSX: (1) Đáp ứng yêu cầu khách quan về sở hữu, quản lý, phân phối, kích thích sáng tạo; (2) Tạo gắn kết hữu cơ giữa các yếu tố của LLSX; (3) Thúc đẩy phân công lao động xã hội, giải quyết việc làm; (4) Kích thích đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất; (5) Tận dụng tiềm năng tài nguyên; (6) Thích ứng, hội nhập kinh tế quốc tế; (7) Đạt tốc độ tăng trưởng cao, nâng cao mức sống nhân dân.

Chương 2: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

Chương 2 luận giải quá trình nhận thức và vận dụng quy luật qua các giai đoạn lịch sử thực tiễn:

  • Giai đoạn 1930–1951: Đảng vận dụng quy luật để phân tích tình hình kinh tế - xã hội Đông Dương, đề ra đường lối bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tại Luận cương chính trị tháng 10/1930. Chủ trương giảm tô, giảm tức, tịch thu và chia cấp ruộng đất của địa chủ cho nông dân đã phản ánh việc giải quyết quan hệ sở hữu ruộng đất nhằm đáp ứng nguyện vọng của quần chúng.
  • Giai đoạn 1951–1958: Tiến hành công cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc. Sau 5 đợt cải cách (kết thúc năm 1957), nông dân nhận ruộng đất, trở thành người sở hữu nhỏ tự do, thủ tiêu quan hệ sản xuất phong kiến. Tác giả đánh giá chế độ sở hữu tư nhân nhỏ này hoàn toàn phù hợp với trình độ LLSX nông nghiệp thô sơ thời bấy giờ, tạo động lực giải phóng sản xuất.
  • Giai đoạn 1959–1986: Đại hội III (1960) xác định đưa miền Bắc tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội thông qua cải tạo xã hội chủ nghĩa và hợp tác hóa nông nghiệp, xóa bỏ tư hữu để lập công hữu. Giai đoạn này nảy sinh mâu thuẫn: nhiệm vụ chính trị tách rời quy luật khách quan, áp đặt QHSX thuần nhất ở trình độ cao vượt trước thực trạng thấp kém của LLSX. Mô hình công nghiệp hóa ưu tiên công nghiệp nặng (Đại hội III, IV) không phù hợp nền tảng kinh tế tiểu nông. Dù Đại hội V (1982) đã điều chỉnh coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, tình trạng duy ý chí, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài vẫn kìm hãm LLSX, dẫn đến khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng trước năm 1986.
  • Vận dụng quy luật trong thời kỳ đổi mới (từ 1986):
    • Phát triển LLSX là động lực trung tâm: Tập trung phát huy nguồn lực con người (quy mô dân số ~82 triệu người, tỷ lệ biết đọc biết viết >96%, cơ cấu dân số trẻ); khắc phục các hạn chế về cơ cấu lao động "thừa thầy, thiếu thợ", chất lượng đào tạo đại học chưa đáp ứng thực tế. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (từ 3 chương trình kinh tế ở Đại hội VI đến mục tiêu trở thành nước công nghiệp tại Đại hội VIII, Đại hội IX) và phát triển khoa học - công nghệ, bảo đảm quyền tự do sáng tạo và dân chủ trong nghiên cứu.
    • Xây dựng và hoàn thiện QHSX định hướng XHCN: Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhiều thành phần, đa dạng hóa các hình thức sở hữu. Tác giả phân tích vị trí nòng cốt của kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kết hợp kinh tế tập thể (hợp tác xã kiểu mới) và thừa nhận sự phát triển hợp pháp của kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa bước chuyển nhận thức mang tính bước ngoặt của Đảng Cộng sản Việt Nam: từ việc tuyệt đối hóa chế độ công hữu, nóng vội xóa bỏ tư hữu sang việc thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần và đa dạng hóa hình thức sở hữu phù hợp với tính chất đa tầng của lực lượng sản xuất.

Tác giả đã tổng hợp các số liệu kinh tế - xã hội quan trọng nhằm minh chứng cho tác động của quy luật qua các giai đoạn:

Giai đoạn / Chỉ số Dữ liệu được trích dẫn trong khóa luận Ý nghĩa kinh tế - xã hội
Cải cách ruộng đất (1955–1957) Chia 81 vạn ha ruộng đất, 2 triệu nông cụ, 15 vạn nhà cửa, 1 vạn trâu bò cho nông dân; hơn 2,1 triệu hộ nông dân miền núi thực hiện giảm tô, giảm tức. Xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, thiết lập quyền sở hữu tư nhân nhỏ của nông dân, phù hợp với trình độ canh tác thủ công.
Nguồn nhân lực (1995–2000) Lao động có trình độ cao đẳng trở lên tăng từ 800.000 lên 1.300.000 người (tăng 17,23%/năm); thạc sĩ và tiến sĩ tăng từ 9.300 lên 13.500 người (tăng 7%/năm); lao động qua đào tạo đạt 20% năm 2000. Phản ánh bước tiến phát triển lực lượng sản xuất theo chiều sâu, song cũng bộc lộ tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ".
Kinh tế nhà nước (1991–2000) Năm 2000 có 5.531 doanh nghiệp nhà nước (1.877 doanh nghiệp Trung ương, 3.654 doanh nghiệp địa phương). Đóng góp GDP tăng từ 26,8% (1991) lên 40,2% (2000); chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu và gần 40% ngân sách nhà nước. Minh chứng vai trò chủ đạo và sức mạnh chi phối của khu vực sở hữu nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần.

Các giải pháp chính do tác giả đề xuất bao gồm:

  1. Về phát triển nguồn lực con người: Đặt lợi ích vật chất và tinh thần của người lao động làm động lực trực tiếp; xây dựng môi trường xã hội dân chủ; thực hiện cải cách căn bản giáo dục - đào tạo, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề tránh đào tạo tự phát, tăng quỹ lương cho giáo viên nhằm hạn chế tình trạng dạy thêm tiêu cực.
  2. Về khoa học và công nghệ: Xây dựng môi trường cạnh tranh thị trường buộc doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ; bảo đảm quy chế dân chủ học thuật được luật pháp hóa để khuyến khích sáng tạo khoa học và ngăn chặn "chảy máu chất xám".
  3. Về hoàn thiện quan hệ sản xuất: Nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần; sắp xếp, nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước; đổi mới mô hình hợp tác xã dựa trên đóng góp cổ phần và lao động trực tiếp; tạo hành lang pháp lý an toàn cho kinh tế tư nhân và cá thể phát triển lâu dài.

Về mặt khoa học, công trình góp phần khẳng định giá trị bền vững của chủ nghĩa duy vật lịch sử, cung cấp luận cứ chứng minh tính khách quan của công cuộc đổi mới đường lối kinh tế tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn được tác giả ghi nhận:

  • Phạm vi tài liệu tham khảo còn hạn hẹp, nguồn dữ liệu chủ yếu tập trung vào giai đoạn 1995–2001, chưa bao quát đồng bộ các số liệu thống kê chuyên sâu đến năm 2005.
  • Trong kết cấu phân tích quan hệ sản xuất, công trình dành phần lớn dung lượng cho quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và phát triển lực lượng sản xuất, trong khi hai mặt quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm chưa được luận giải với mức độ tương xứng.
  • Có sự thiếu thống nhất kỹ thuật giữa phần mở đầu (nêu kết cấu gồm 3 chương) và nội dung thực tế được trình bày trong văn bản (triển khai thành 2 chương lớn).

Hướng mở tiếp theo: Cần mở rộng nghiên cứu tác động của quy luật trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện; phân tích cơ chế phân phối theo kết quả lao động kết hợp với phân phối theo vốn góp, cùng vấn đề giải quyết phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu học tập và nghiên cứu phù hợp cho sinh viên, giảng viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị học và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Điểm tham khảo giá trị nhất của công trình nằm ở hệ thống hóa lịch sử các chủ trương, nghị quyết của Đảng từ Luận cương 1930 đến Đại hội IX qua lăng kính quy luật LLSX - QHSX. Khung phân tích 7 tiêu chuẩn đánh giá sự phù hợp của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất tại Chương 1 cung cấp một công cụ lý luận hữu ích cho các bài viết, tiểu luận và khóa luận nghiên cứu về thể chế kinh tế quá độ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận chỉ ra nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ở Việt Nam trước năm 1986 là gì? Khóa luận dẫn lại đánh giá của Đại hội VI, xác định nguyên nhân là do nhận thức và hành động chưa nắm vững quy luật khách quan, mang nặng tính chủ quan duy ý chí; đẩy quan hệ sản xuất lên quá cao thông qua việc tuyệt đối hóa chế độ công hữu, duy trì cơ chế bao cấp và không chấp nhận sản xuất hàng hóa, dẫn đến triệt tiêu động lực của người lao động và kìm hãm lực lượng sản xuất.

2. Kết quả của công cuộc Cải cách ruộng đất (1955–1957) được phản ánh bằng các số liệu cụ thể nào? Qua 5 đợt cải cách ruộng đất, Nhà nước đã chia cho nông dân 81 vạn ha ruộng đất, 2 triệu nông cụ, 15 vạn nhà cửa và 1 vạn trâu bò. Ngoài ra, hơn 2,1 triệu hộ nông dân tại các tỉnh miền núi (chiếm 2/3 diện tích và 1/5 dân số miền Bắc) đã được vận động giảm tô, giảm tức, chia công điền và tạm cấp ruộng đất.

3. Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 1995–2000 được khóa luận mô tả qua những con số nào? Theo Hội nghị Trung ương 6 khóa IX được trích dẫn, lao động có trình độ cao đẳng trở lên tăng 17,23%/năm (từ 800.000 người năm 1995 lên 1.300.000 người năm 2000); thạc sĩ và tiến sĩ tăng 7%/năm (từ 9.300 người năm 1995 lên 13.500 người năm 2000); tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn đạt 20% vào năm 2000 trên tổng dân số khoảng 82 triệu người.

4. Dữ liệu nào trong khóa luận khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong thời kỳ đổi mới? Tính đến năm 2000, cả nước có 5.531 doanh nghiệp nhà nước (1.877 doanh nghiệp Trung ương và 3.654 doanh nghiệp địa phương). Khu vực này đóng góp tỷ trọng GDP tăng từ 26,8% năm 1991 lên 40,2% năm 2000, đóng góp trên 50% kim ngạch xuất khẩu và tạo ra gần 40% nguồn thu ngân sách nhà nước.

5. Khóa luận đưa ra những giải pháp nào nhằm khắc phục tình trạng chảy máu chất xám và nâng cao hiệu quả khoa học - công nghệ? Tác giả đề xuất xây dựng môi trường dân chủ học thuật được thể chế hóa bằng luật pháp nhằm chống độc đoán, áp đặt; chuyển đổi sang cơ chế thị trường để tạo áp lực cạnh tranh buộc cơ sở sản xuất phải liên kết và ứng dụng khoa học; đồng thời đầu tư các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và cử cán bộ đi đào tạo ở các nước có nền khoa học tiên tiến theo tinh thần Đại hội IX.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Phương đã hệ thống hóa tường minh các nguyên lý triết học duy vật lịch sử về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Thông qua việc phân tích thực chứng các chặng đường lịch sử từ năm 1930 đến đầu thế kỷ XXI, công trình đã làm sáng tỏ tính tất yếu khách quan của đường lối đổi mới kinh tế do Đảng khởi xướng từ năm 1986. Nghiên cứu khẳng định bài học cốt lõi về việc tôn trọng quy luật khách quan, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhiều thành phần nhằm giải phóng tối đa năng lực sản xuất của đất nước.