Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện trong bối cảnh công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) và tiếp tục được khẳng định qua các kỳ Đại hội VII và VIII. Quá trình này xác định việc xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát huy thế mạnh của từng địa phương, từng vùng là giải pháp cấp bách và nhiệm vụ chiến lược lâu dài để thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Huyện Củ Chi là huyện nông nghiệp ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh. Sau năm 1975, nền kinh tế của huyện chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, xuất phát điểm thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Sau 15 năm đổi mới (1986 - 2000), kinh tế - xã hội Củ Chi đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng tốc độ và quy mô phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Xuất phát từ thực tiễn địa phương và yêu cầu xác định cơ cấu kinh tế phù hợp với kinh tế thị trường, tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh đã thực hiện đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng và đóng góp giải pháp cho tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện.

Mục đích nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định gồm 2 nội dung:

  1. Tìm hiểu, đánh giá hiện trạng các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội của huyện Củ Chi.
  2. Nghiên cứu một cách tổng quát sự phát triển kinh tế huyện để tìm hiểu thực trạng và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Củ Chi từ năm 1985 đến năm 2000.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản cụ thể hóa thành 5 nhiệm vụ:

  1. Thu thập các số liệu thống kê, các thông tin tài liệu có liên quan đến kinh tế huyện Củ Chi.
  2. Tìm hiểu một số khái niệm về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
  3. Xem xét, phân tích những ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Củ Chi.
  4. Dự báo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2010.
  5. Đề xuất một số giải pháp phù hợp để hoàn thiện cơ cấu kinh tế của huyện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu kinh tế và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên các phương diện ngành, thành phần kinh tế và lãnh thổ.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính huyện Củ Chi thuộc Thành phố Hồ Chí Minh (gồm 20 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên 42.856 ha).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn 1985 - 2000, có liên hệ đối chiếu với giai đoạn phục hồi kinh tế 1975 - 1985 và định hướng dự báo đến năm 2010.
  • Góc độ tiếp cận: Đề tài tiếp cận dưới góc độ khoa học Địa lí kinh tế - xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về mặt lý luận, khóa luận hệ thống hóa các quan niệm học thuật về cơ cấu kinh tế từ nhiều nguồn tài liệu chuyên ngành:

  • Khái niệm cơ cấu kinh tế theo Giáo sư Nguyễn Đình Nam: Cơ cấu kinh tế phản ánh tổng thể mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, bao gồm các yếu tố nguồn lực (tài nguyên, vốn, lao động, kỹ thuật), các lĩnh vực (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng), các ngành (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), các vùng lãnh thổ và các thành phần kinh tế.
  • Khái niệm của Tiến sĩ Đinh Xuân Hùng và Giáo sư Tiến sĩ Phan Thanh Phố: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân gắn với vị trí, quy mô, trình độ kỹ thuật và tỷ trọng tương ứng trong từng giai đoạn.
  • Định nghĩa thuật ngữ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trích từ Sổ tay thuật ngữ Địa lí của tác giả Nguyễn Dược: Quá trình thay đổi dần dần cấu trúc nền kinh tế trong phạm vi ngành và lãnh thổ để thích nghi với hoàn cảnh phát triển, biểu hiện cốt lõi qua sự biến đổi tỷ trọng các ngành trong tổng sản phẩm nội địa (GDP).

Khóa luận phân tích ba khía cạnh biểu hiện chủ yếu của cơ cấu kinh tế:

  1. Cơ cấu ngành và lĩnh vực kinh tế: Gồm 3 nhóm hoạt động chính: nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ.
  2. Cơ cấu thành phần kinh tế: Khảo sát quá trình chuyển biến đường lối từ Đại hội VI (1986), Đại hội VII (1991), Đại hội VIII (1996) đến Đại hội IX (2001), phân định các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh (giữ vai trò chủ đạo), kinh tế tập thể, kinh tế cá thể - tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước.
  3. Cơ cấu lãnh thổ: Phân công lao động theo lãnh thổ gắn kết chặt chẽ với phân công lao động theo ngành nhằm tối ưu hóa tổ chức không gian sản xuất.

Về phương pháp luận, tác giả quán triệt 3 quan điểm nền tảng của khoa học Địa lí:

  • Quan điểm hệ thống: Xem xét huyện Củ Chi như một hệ sinh thái kinh tế - xã hội thống nhất, vận động theo quy luật nội tại và gắn bó hữu cơ trong mối liên hệ với Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Nghiên cứu không gian kinh tế - xã hội Củ Chi trong mối tương quan đa chiều giữa các tiềm năng tài nguyên và các yếu tố nhân văn.
  • Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Phân tích sự kiện kinh tế diễn ra trong quá khứ và hiện tại để xác lập căn cứ dự báo xu thế đến năm 2010.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp thu thập, nghiên cứu và xử lý tài liệu, số liệu thống kê.
  • Phương pháp toán học và thống kê kinh tế.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp.
  • Phương pháp bản đồ và biểu đồ.
  • Phương pháp so sánh địa lí.
  • Phương pháp khảo sát thực địa.

Nguồn dữ liệu thực tế được tác giả khai thác trực tiếp từ: Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, Chi cục Thống kê huyện Củ Chi, Phòng Kinh tế, Phòng Nông nghiệp, Phòng Tài chính - Kế hoạch - Đầu tư, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi; Niên giám thống kê TP. Hồ Chí Minh các năm 1991, 1995; Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Củ Chi 5 năm 1996 - 2000; ấn phẩm Củ Chi 20 năm xây dựng và phát triển (NXB Trẻ, 1995).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chương này tập trung làm rõ bản chất lý luận của cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tác giả khẳng định cơ cấu kinh tế là một hệ thống động, không bất biến mà luôn vận động, biến đổi phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mang tính tất yếu khách quan nhằm thiết lập các mối quan hệ cân đối mới tối ưu hơn.

Tác giả luận giải đặc điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Quá trình này có tính chất "chồng đúp": vừa chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, vừa từng bước chuyển từ mô hình nông - công nghiệp sang dịch vụ hiện đại. Nội dung chương khái quát hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng từ Đại hội VIII về công nghiệp hóa nông nghiệp - nông thôn, phát triển kinh tế nhiều thành phần, đến Đại hội IX về chiến lược phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững giai đoạn 2001 - 2010.

Đồng thời, chương I phân tích hai nhóm nhân tố chi phối quá trình hình thành cơ cấu kinh tế:

  • Nhóm nhân tố tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, khoáng sản đóng vai trò là tiền đề vật chất tự nhiên.
  • Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội: Dân số, nguồn lao động, trình độ khoa học kỹ thuật, kết cấu hạ tầng, thị trường và đường lối chính sách của Nhà nước đóng vai trò quyết định chiều hướng và tốc độ chuyển dịch.

Chương II: Khái quát nguồn lực phát triển kinh tế xã hội huyện Củ Chi

Chương II kiểm kê toàn diện các tiềm năng tự nhiên và nguồn lực xã hội của địa phương.

Về điều kiện tự nhiên: Huyện Củ Chi có tọa độ 106°22' - 106°40' kinh độ Đông, nằm ở cửa ngõ Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố 35 km theo Quốc lộ 22 (đường Xuyên Á đi Phnom Penh), tiếp giáp tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Long An và huyện Hóc Môn. Địa hình phân thành 3 dạng chính: vùng đồi gò cao trên 15m (Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, An Phú, Phạm Văn Cội), vùng triền cao từ 5 - 10m và vùng bưng trũng cao 1 - 2m ven sông Sài Gòn và khu vực Thái Mỹ - Tam Tân. Nền địa chất hình thành trên hai tướng trầm tích phù sa cổ (Pleixtoxen) và phù sa trẻ (Holoxen). Thổ nhưỡng có 6 nhóm đất chính với 69 đơn vị, diện tích đất phèn chiếm tỷ trọng lớn nhất:

Nhóm đất Diện tích (ha)
Đất phèn 15.011
Đất xám 13.784
Đất đọng mùn trên phù sa cổ 1.839
Đất nhiễm phèn, dốc tụ trên nền phèn 1.460
Đất vàng đỏ, vàng xám 1.258
Đất phù sa trên nền phèn 192
Đất khác 9.312
Tổng diện tích tự nhiên 42.856

Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm đạt 27°C, lượng mưa trung bình năm 1.945 mm, tập trung 85 - 90% vào mùa mưa (tháng 5 - 11). Hệ thống thủy văn có mật độ 0,81 km/km² với sông Sài Gòn (đoạn qua huyện dài 45 km, rộng 200m, sâu 16m), Rạch Tra (dài 11 km), Kênh Thầy Cai (dài 24 km) và công trình đại thủy nông Kênh Đông (dẫn nước hồ Dầu Tiếng, cấp nước tưới cho hơn 10.000 ha vùng gò, hỗ trợ thau chua rửa phèn). Tài nguyên khoáng sản nổi bật gồm đất sét cao lanh (rạch Sơn, Gót Chang, Bàu Trắng), mỏ sét trương nở Bentonite (trữ lượng 10 triệu tấn/km²) và than bùn bưng Tam Tân.

Về nguồn lực kinh tế - xã hội:

  • Dân số và lao động: Dân số tăng từ 207.000 người (1985) lên 256.212 người (1995) và 257.805 người (2001), mật độ bình quân 601,56 người/km² (đứng thứ 21/22 quận huyện về mật độ, thứ 5/22 về quy mô dân số của TP.HCM). Cơ cấu dân số trẻ (nhóm 0 - 14 tuổi chiếm 38,4%), nữ chiếm 51,93% tổng dân số năm 2001. Dân tộc Kinh chiếm 99,36%, người Hoa chiếm 0,58%. Năm 1994, lao động trong độ tuổi có 115.554 người (nữ chiếm 53,76%), tỷ lệ có việc làm ổn định đạt 95,34%. Lao động tập trung lớn nhất trong ngành nông - lâm nghiệp (63,92%), công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 16,86%. Hạn chế lớn là chất lượng chuyên môn thấp: năm 1989 chỉ có 6,74% lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật.
  • Đời sống dân cư: Thu nhập bình quân đầu người tăng đều qua các năm:
Năm 1991 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Thu nhập bình quân đầu người/năm (USD) 221 325 291 336 402 402 584

Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 22% (1996) xuống 4,9% (2000). Năm 2000 có 79,86% nhà ở kiên cố và bán kiên cố, 99% số hộ được sử dụng lưới điện quốc gia (so với mức 83% ở khu vực nông thôn năm 1995). Mạng lưới viễn thông đạt 3.000 máy điện thoại (bình quân 1 máy/100 dân).

  • Vốn đầu tư hạ tầng: Giai đoạn 1996 - 2000 đạt 826,399 tỷ đồng, tăng gấp 5,62 lần so với giai đoạn 1991 - 1995 (146,950 tỷ đồng). Huyện quy hoạch 3 khu công nghiệp tập trung: Tây Bắc Củ Chi (200 ha), Tân Quy (150 ha) và Tân Phú Trung (500 ha). Đến năm 2000, huyện thu hút 68 doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong đó có 25 dự án FDI với tổng vốn đăng ký trên 120 triệu USD, chủ yếu từ Hàn Quốc và Đài Loan.

Chương III: Thực trạng và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Củ Chi

Chương III phân tích diễn biến chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua hai chặng đường:

  1. Giai đoạn 1975 - 1985: Cơ cấu kinh tế huyện mang tính chất thuần nông, nông nghiệp chiếm trên 90% giá trị sản xuất toàn huyện. Trồng trọt giữ vai trò chi phối tuyệt đối, chăn nuôi chưa vượt quá 20% giá trị ngành. Về tổ chức sản xuất, huyện áp dụng mô hình tập thể hóa cưỡng bức, đến năm 1985 thành lập được 5 nông trường quốc doanh và 92 hợp tác xã nông nghiệp. Tuy nhiên, mô hình HTX làm ăn kém hiệu quả so với kinh tế cá thể nên dần rơi vào khủng hoảng và tan rã vào cuối năm 1990.
  • Sản xuất trồng trọt: Diện tích gieo trồng năm 1976 đạt 31.849 ha. Cơ cấu cây trồng chủ yếu là lúa lương thực (chiếm 78,69% diện tích) và cây công nghiệp ngắn ngày (chiếm 10% diện tích, riêng đậu phộng chiếm 81,7%). Sản lượng cây công nghiệp ngắn ngày tăng từ gần 27.000 tấn (1979) lên 39.000 tấn (1983) nhưng năng suất bị sụt giảm từ 47,29 tạ/ha xuống 28,74 tạ/ha.
  • Sản xuất chăn nuôi: Quy mô đàn heo phát triển nhanh từ 5.152 con (1976) lên 18.200 con (1984), sản lượng thịt tăng từ 395 tấn lên 1.350 tấn. Đàn trâu bò phục vụ sức kéo giảm do người dân gặp khó khăn, phải bán gia súc chuyển sang làm nghề dịch vụ vận tải khách.
  • Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thời kỳ đầu sau giải phóng chủ yếu là các tổ hợp tác: năm 1978 có 4 tổ hợp bánh tráng xuất khẩu (259 lò, 518 lao động), 2 tổ hợp mành trúc (115 lao động), 1 tổ hợp rổ rá (300 lao động), 2 tổ hợp sơn mài (36 lao động), 2 cơ sở xay xát mì và 1 cơ sở nước chấm.
  1. Giai đoạn 1985 - 2000 và định hướng đến 2010:
  • Chuyển dịch cơ cấu ngành: Nền kinh tế từng bước thoát khỏi tình trạng thuần nông. Tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tăng trưởng rõ rệt nhờ việc đầu tư hạ tầng và hình thành các KCN tập trung. Tỷ trọng nông nghiệp giảm dần trong cơ cấu GDP. Trong nội bộ nông nghiệp, diện tích đất phèn được cải tạo nhờ Kênh Đông để trồng thơm, điều; mở rộng chăn nuôi bò sữa và trồng rau chuyên canh dọc Quốc lộ 22.
  • Chuyển dịch cơ cấu thành phần: Sự xóa bỏ thế độc tôn của kinh tế tập thể kém hiệu quả, mở rộng kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế tư nhân. Đặc biệt, sự xuất hiện của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (25 doanh nghiệp FDI, vốn trên 120 triệu USD) tạo động lực gia tăng năng lực sản xuất công nghiệp và giải quyết việc làm.
  • Chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ: Phân vùng kinh tế hình thành rõ nét: khu vực phát triển công nghiệp - dịch vụ tập trung ở thị trấn Củ Chi, dọc Quốc lộ 22 và Tỉnh lộ 8; khu vực chuyên canh nông nghiệp sinh thái và cây lâu năm phân bố ở các xã phía Bắc và vùng gò đồi; khu vực cây ăn trái và du lịch nghỉ ngơi sinh thái ven sông Sài Gòn (dài 54 km).

Văn bản nêu bật những thành tựu đạt được về tốc độ tăng trưởng kinh tế, hạ tầng giao thông - điện lực, xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, huyện vẫn đối mặt các khó khăn: hạ tầng chưa đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực thấp, thủ tục hành chính đất đai phức tạp, sản xuất kinh doanh dịch vụ còn mang tính tự phát. Về phương hướng đến năm 2010, huyện xác định mục tiêu chung là đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, phấn đấu đạt thu nhập bình quân đầu người 800 - 1.000 USD vào năm 2005; phát triển hạ tầng kỹ thuật các KCN Tây Bắc Củ Chi, Tân Phú Trung, Tân Quy, Bàu Đưng và tăng cường đào tạo nghề thông qua Trường Trung học nghề Củ Chi.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh các kết quả thực tiễn phát triển của huyện Củ Chi giai đoạn 1985 - 2000 thông qua hệ thống số liệu cụ thể:

  • Mức sống dân cư: Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 221 USD (1991) lên 325 USD (1995) và đạt 584 USD (2000). Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 22% (1996) xuống còn 4,9% (2000).
  • Hạ tầng kỹ thuật: Hoàn thành mục tiêu điện khí hóa nông thôn năm 2000 với 99% hộ dân có điện; mạng lưới thông tin liên lạc phát triển với 14 bưu cục và 3.000 máy điện thoại cố định; tổng chiều dài đường bộ đạt 250,625 km; vốn đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn 1996 - 2000 đạt 826,399 tỷ đồng.
  • Thu hút đầu tư sản xuất: Thu hút 68 doanh nghiệp, bao gồm 25 doanh nghiệp FDI với tổng vốn đầu tư trên 120 triệu USD; hình thành 3 KCN tập trung quy mô lớn (Tây Bắc 200 ha, Tân Quy 150 ha, Tân Phú Trung 500 ha).

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:

  • Tiếp tục hoàn thiện kết cấu hạ tầng mạng lưới điện, giao thông và chính sách giá thuê đất hợp lý nhằm thu hút các doanh nghiệp nội thành di dời và các nhà đầu tư nước ngoài.
  • Tái cơ cấu nông nghiệp: Chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi; mở rộng chăn nuôi bò sữa, nuôi trồng thủy sản nước ngọt; đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.
  • Phát triển công nghiệp - TTCN: Khôi phục và mở rộng các làng nghề truyền thống có lợi thế về kinh nghiệm và nguyên liệu địa phương như sơn mài Hòa Phú, mây tre lá, tráng bánh tráng.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đẩy mạnh đào tạo nghề tại Trường Trung học nghề Củ Chi để đáp ứng tiêu chuẩn tuyển dụng của các KCN.

Đóng góp khoa học của đề tài: Theo khảo cứu lịch sử nghiên cứu của tác giả, các tài liệu trước đây như cuốn sách Củ Chi 20 năm xây dựng và phát triển (1995) chỉ dừng ở mức mô tả, liệt kê hoạt động sản xuất theo từng chương; khóa luận tốt nghiệp năm 1985 của sinh viên Nguyễn Thanh Đạm mới phản ánh sơ lược tình hình giai đoạn 1981 - 1985. Khóa luận của Nguyễn Thị Hồng Hạnh là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận toàn diện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Củ Chi dưới góc độ Địa lí kinh tế - xã hội, đặt sự vận động của địa phương trong chỉnh thể vùng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Tứ giác tăng trưởng Đông Nam Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của khóa luận:

  • Do bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học và nguồn tư liệu thu thập giữa các ngành, các thời kỳ chưa thật đồng bộ, một số chỉ tiêu kinh tế giai đoạn 1996 - 2000 chưa có chuỗi số liệu phân rã chi tiết mà chủ yếu dựa trên số liệu báo cáo tổng hợp.
  • Cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu lao động ở các năm cuối giai đoạn nghiên cứu chưa được cập nhật đồng đều theo từng ngành nghề chuyên sâu.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục theo dõi, kiểm chứng tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Củ Chi theo các mốc mục tiêu dự báo năm 2005 và năm 2010.
  • Nghiên cứu sâu hơn về tác động xã hội và môi trường của quá trình thu hồi đất nông nghiệp phục vụ xây dựng các khu công nghiệp tập trung và đô thị hóa vệ tinh.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Địa lí học, Địa lí Kinh tế - Xã hội, Kinh tế phát triển và Quy hoạch đô thị - nông thôn trong việc tìm hiểu phương pháp phân tích chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ cấp huyện.
  • Cán bộ quản lý kinh tế, chuyên viên quy hoạch tại huyện Củ Chi và Thành phố Hồ Chí Minh khi nghiên cứu lịch sử phát triển chính sách đất đai, công nghiệp hóa nông thôn và mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành.
  • Các phần có giá trị tư liệu cao: Chương II (phần dữ liệu điều kiện tự nhiên, phân loại thổ nhưỡng, thủy văn Kênh Đông và phân bố dân cư) cùng Chương III (bức tranh đối chiếu sản xuất nông nghiệp thời kỳ bao cấp 1975 - 1985 với thời kỳ đầu mở cửa thu hút FDI 1985 - 2000).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân tích cơ cấu kinh tế huyện Củ Chi qua những khía cạnh biểu hiện nào?
Khóa luận xem xét cơ cấu kinh tế trên 3 khía cạnh chủ yếu: cơ cấu ngành kinh tế (nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ); cơ cấu thành phần kinh tế (kinh tế quốc doanh, tập thể, cá thể - tiểu chủ, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài); cơ cấu lãnh thổ kinh tế (sự phân bố không gian sản xuất, các cụm điểm dân cư và các khu công nghiệp tập trung).

2. Điểm đặc thù của địa hình và thổ nhưỡng Củ Chi ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất nông nghiệp?
Địa hình Củ Chi chia làm 3 dạng: đồi gò (>15m), triền (5 - 10m) và bưng trũng (1 - 2m). Vùng gò đồi đất xám thoát nước tốt thích hợp trồng cây công nghiệp lâu năm (cao su, điều); vùng triền thích hợp cho rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày; vùng trũng ven sông Sài Gòn và vùng Tam Tân - Thái Mỹ có tầng đất phèn lớn (15.011 ha), trước đây khó canh tác nhưng nhờ có nước ngọt từ công trình Kênh Đông dẫn từ hồ Dầu Tiếng nên đã thau chua rửa phèn thành công để trồng khóm, điều và lúa 2 vụ.

3. Tình hình tổ chức sản xuất nông nghiệp Củ Chi giai đoạn 1975 - 1985 diễn ra như thế nào?
Huyện thực hiện phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, đạt đỉnh cao vào năm 1985 với việc thành lập 5 nông trường quốc doanh và 92 hợp tác xã nông nghiệp. Tuy nhiên, phương thức quản lý tập thể mang tính hành chính, ép buộc nông dân vào HTX đã làm giảm động lực sản xuất. Năng suất cây trồng giảm (năng suất cây công nghiệp ngắn ngày giảm từ 47,29 tạ/ha năm 1979 xuống 28,74 tạ/ha năm 1983), dẫn đến việc các tập đoàn sản xuất và HTX nông nghiệp lần lượt tan rã vào cuối năm 1990.

4. Quy mô đầu tư xây dựng cơ bản của huyện Củ Chi giai đoạn 1996 - 2000 thay đổi ra sao so với giai đoạn 1991 - 1995?
Tổng mức vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện giai đoạn 1996 - 2000 đạt 826,399 tỷ đồng, tăng gấp 5,62 lần so với giai đoạn 1991 - 1995 (chỉ đạt 146,950 tỷ đồng), bình quân mỗi năm đầu tư 165 tỷ đồng. Nếu giai đoạn 1991 - 1995 vốn tập trung cho giao thông, văn hóa - xã hội và nông nghiệp thì giai đoạn 1996 - 2000 huyện chuyển trọng tâm đầu tư vào công nghiệp, văn hóa - xã hội, mạng lưới điện và hạ tầng các KCN tập trung.

5. Lực lượng lao động của huyện Củ Chi trong giai đoạn nghiên cứu có những thuận lợi và khó khăn gì?
Thuận lợi là nguồn lao động trẻ, dồi dào (năm 1994 có 115.554 người trong độ tuổi lao động, nữ chiếm 53,76%), tỷ lệ có việc làm ổn định cao (95,34%), lực lượng lao động nữ khéo tay thích hợp với các ngành dệt may, da giày, gốm sứ và nghề thủ công truyền thống. Khó khăn căn bản là mặt bằng dân trí và trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp (năm 1989 chỉ có 6,74% lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong đó đại học và cao đẳng chỉ chiếm 1,11%), phần lớn chuyển đổi trực tiếp từ lao động nông nghiệp nên thiếu tác phong công nghiệp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh đã tái hiện bức tranh kinh tế huyện Củ Chi trong giai đoạn 1985 - 2000 từ góc độ Địa lí kinh tế - xã hội. Tác phẩm làm rõ bước chuyển đổi mang tính quy luật từ một nền kinh tế thuần nông chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh sang mô hình kinh tế nhiều thành phần gắn với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Bằng việc phân tích các nguồn lực tự nhiên, nhân văn và đánh giá thực trạng 3 khu công nghiệp tập trung, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức lãnh thổ và chuyển đổi ngành nghề có giá trị thực tiễn cho địa phương định hướng đến năm 2010.