chương 1 cũng sẽ giới thiệu một số văn bản pháp lý quan đến bảo vệ trẻ em của quốc tế và Việt Nam. Mục tiêu - Về kiến thức: Trình bày được một số khái niệm: về trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em có nguy cơ bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng v.; Trình bày được một số nội dung cơ bản trong các văn bản pháp lý liên quan đến công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em. - Kỹ năng: Rèn luyện kỹ năng trong việc tuyên truyền, phổ biến, thực thi quyền trẻ em nói chung và chăm sóc bảo vệ trẻ em nói riêng. Vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, nhận thức được các trường hợp trẻ em có nguy cơ bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tích cực, chủ động phát huy vai trò, trách nhiệm của bản thân trong công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em. Nội dung chính 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Khái niệm trẻ em (1-3) Điều 1 Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em quy định: "Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp 8 áp dụng đối với trẻ em đã có quy định tuổi thành niên sớm hơn".
Theo Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Theo Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” Trong Bộ luật dân sự năm 2015 quy định tại Điều 21 về người chưa thành niên là “người chưa đủ 18 tuổi”. Như vậy, trẻ em cũng là người chưa thành niên và có thể nói: Người chưa thành niên bao gồm trẻ em và những người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Theo Điều 3 và Điều 40 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện các quyền cơ bản của mình, khó hòa nhập với gia đình và cộng đồng”.
Theo Điều 4 Luật trẻ em năm 2016 “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ điều kiện thực hiện được quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được an toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng”. * Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm các nhóm sau đây: 1. Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ 2. Trẻ em bị bỏ rơi 3.
Trẻ em không nơi nương tựa 4. Trẻ em khuyết tật 5. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS 6. Trẻ em vi phạm pháp luật 7.
Trẻ em nghiện ma túy 9 8. Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở 9. Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực 10. Trẻ em bị bóc lột 11.
Trẻ em bị xâm hại tình dục 12. Trẻ em bị mua bán 13. Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo 14. Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc Chính phủ quy định chi tiết các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và chính sách hỗ trợ phù hợp đối với từng nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Trẻ em có nguy cơ bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng (3, 4) Là trẻ em chưa bị tác động bởi các hành vi xâm hại, bóc lột và sao nhãng, nhưng có thể sẽ bị tổn thương về mặt thể chất, tinh thần, tình cảm, đạo đức và xã hội nếu không có hoạt động phòng ngừa, can thiệp bảo vệ trẻ kịp thời. Khái niệm về xâm hại, bóc lột và sao nhãng Theo Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016: “Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác”. Như vậy, việc lạm dụng, ngược đãi, bóc lột và sao nhãng là một trong những hình thức xâm hại trẻ em. Theo Liên hợp quốc: "Xâm hại hay ngược đãi trẻ em là tất cả các hình thức đối xử tồi tệ về tình cảm hoặc thể chất, lạm dụng tình dục, sao nhãng, đối xử không đúng mức hoặc bóc bột vì mục đích thương mại hay các mục đích khác gây ra tổn hại thực tế hoặc tiềm ẩn đối với sự phát triển, sự sống còn, sức khoẻ hay nhân phẩm của trẻ ".
10 Có nhiều cách phân loại các hình thức xâm hại, bóc lột và sao nhãng trẻ em. Tuy nhiên, các tài liệu thường đề cập đến năm hình thức chính, đó là: Xâm hại về thể chất, xâm hại về tình thần, xâm hại tình dục, bóc lột trẻ em và sao nhãng. Xâm hại thể chất Là những hành vi đánh đập, lắc, ném, đầu độc, đốt hay làm bỏng, dìm chết, làm nghẹn thở, hay gây những tổn thương thể xác cho một đứa trẻ. Xâm hại thể chất trẻ em là hành vi có nguy cơ hoặc thực sự gây tổn thương thể chất cho trẻ từ sự tương tác hoặc sự thiếu tương tác nằm trong tầm kiểm soát của bố mẹ hay người có trách nhiệm, quyền lực hay được tin tưởng.
Những tai nạn này có thể chỉ diễn ra một lần hay lặp đi lặp lại. Xâm hại về tinh thần Xâm hại về tinh thần có thể bao gồm những hành vi mắng chửi hay lăng nhục trẻ. Những hành vi gây tổn thương hoặc làm giảm nhận thức của trẻ về cái tôi, giá trị và năng lực bản thân từ đó tác động lên tiềm năng sáng tạo và phát triển của quá trình hoạt động, khả năng trí tuệ của trẻ; bao gồm trí thông minh, trí nhớ, nhận thức, sự tập trung, khả năng ngôn ngữ và đạo đức. Xâm hại tình dục Theo Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016: “Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”.
Sao nhãng Sao nhãng là việc liên tục chểnh mảng không đáp ứng đủ các nhu cầu vật chất và/ hoặc tâm lý của trẻ dẫn đến giảm sút sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Sao nhãng và chăm sóc cẩu thả là sự vô tình hay chểnh mảng của người chăm sóc trong cung cấp các nguồn lực sẵn có cho sự phát triển toàn diện của trẻ 11 về: sức khỏe, học vấn, phát triển tình cảm, dinh dưỡng, mái ấm và các điều kiện sống an toàn; hoặc gây nên những tổn hại cho sức khỏe, thể chất, tinh thần, sự phát triển về nguyên tắc sống hay xã hội. Định nghĩa này còn bao gồm sự chểnh mảng trong giám sát và bảo vệ trẻ khỏi tổn thương trong mức tối đa. Bóc lột trẻ em Theo Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016: “Bóc lột trẻ em là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật về lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợ hoạt động du lịch nhằm mục đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc cung cấp trẻ em để hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ em để trục lợi”.
Bảo vệ trẻ em Theo Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016: “Bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt”. Bảo vệ trẻ em là một lĩnh vực đặc thù trong hoạt động công tác xã hội, trong đó áp dụng những giá trị, kiến thức và kỹ năng của nghề công tác xã hội để hướng tới việc đảm bảo an toàn và bảo vệ cho trẻ em. Bảo vệ trẻ em là công tác phòng ngừa, ngăn chặn và can thiệp trợ giúp các trường hợp trẻ em bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng. Công tác bảo vệ trẻ em bao gồm mọi hoạt động lập pháp, hành chính, xã hội và giáo dục nhằm đảm bảo mọi trẻ em không bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng và lạm dụng.
Nó cũng bao gồm và trách nhiệm của cha mẹ, người chăm sóc, cộng đồng và chính phủ trong việc đảm bảo mọi trẻ em trong xã hội được sống trong một môi trường an toàn. Hoạt động bảo vệ trẻ em bao gồm 4 nhiệm vụ : - Phòng ngừa sự tổn hại có thể xảy ra với trẻ - Chấm dứt sự tổn hại đang diễn ra với trẻ 12 - Phục hồi trẻ em và gia đình sau khi tổn hại hoặc nguy cơ tổn hại đã xảy ra - Nâng cao sự hiểu biết cho các gia đình về giá trị, tri thức và kỹ năng trong xã hội nhằm thực hiện sự chăm sóc phát triển và bảo vệ trẻ em một cách thich hợp 2. MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN BẢO VỆ TRẺ EM CỦA QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM 5. Luật pháp quốc tế (1) Nếu tính từ đầu thế kỷ XX đến nay, đã có khoảng 80 văn kiện quốc tế liên quan đến quyền trẻ em được các tổ chức quốc tế ban hành hoặc được thông qua tại các hội nghị quốc tế.
Hệ thống văn bản đó là thành quả của cả thế kỷ đấu tranh không mệt mỏi của nhân loại tiến bộ nhằm cải thiện vị thế và cuộc sống của trẻ em - một trong những nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất của loài người. Trong số đó, Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em là một văn kiện trong hệ thống điều ước quốc tế về nhân quyền, đề cập riêng đến quyền con người của trẻ em. Công ước đã đưa ra một định nghĩa chung về trẻ em có thể áp dụng cho tất cả các xã hội trên thế giới mà không có sự phân biệt về bất cứ yếu tố nào về chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá, phong tục tập quán…Quan trọng hơn, Công ước đã đưa ra một tập hợp các quyền trẻ em mà rất nhiều quyền trước đó chưa hề được các văn kiện pháp lý quốc tế nào đề cập.