Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những nội dung trọng tâm trong chiến lược phát triển con người của Việt Nam. Nền tảng tư tưởng cho công tác này bắt nguồn từ quan điểm nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các bài viết, bài nói và Di chúc lịch sử. Ở cấp độ quốc tế, quyền trẻ em đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện quan trọng như Tuyên bố Giơ-ne-vơ năm 1923, Tuyên bố của Liên Hợp Quốc năm 1959, Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (CRC), Công ước số 182 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 2000 và các Nghị định thư bổ sung năm 2000, 2002. Việt Nam là quốc gia đầu tiên tại châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn CRC vào ngày 20/02/1990, đồng thời từng bước nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế vào Hiến pháp và hệ thống luật chuyên ngành.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các hành vi vi phạm quyền trẻ em vẫn diễn biến phức tạp như tình trạng bạo lực học đường, bạo lực gia đình, xâm hại tình dục, lao động trẻ em và nguy cơ bị xâm hại trên không gian mạng. Một trong những nguyên nhân gốc rễ xuất phát từ việc hệ thống văn bản pháp luật còn bộc lộ khiếm khuyết: quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống và chưa thực sự lồng ghép toàn diện các yêu cầu bảo đảm quyền trẻ em. Do đó, khóa luận lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Bảo đảm quyền của trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật".

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc bảo đảm quyền trẻ em trong hoạt động xây dựng VBQPPL, từ đó đề xuất các kiến nghị tháo gỡ bất cập, góp phần hoàn thiện quy trình lập pháp và nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền trẻ em.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:

  1. Nêu rõ những vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng VBQPPL (khái niệm, đặc điểm, nội dung quyền trẻ em và các phương thức bảo đảm).
  2. Phân tích thực trạng bảo đảm quyền trẻ em trong từng giai đoạn của quy trình xây dựng VBQPPL hiện nay, chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
  3. Đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng VBQPPL thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bảo đảm quyền của trẻ em trong xây dựng VBQPPL.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định và thực tiễn thực hiện quyền trẻ em trong quy trình xây dựng VBQPPL.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2005 đến nay (mốc thời gian sau khi Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và Luật Ban hành VBQPPL năm 2004 có hiệu lực).
  • Phạm vi không gian: Thực hiện trên phạm vi cả nước Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn mực về quyền con người và quyền trẻ em. Tác giả phân tích 3 cách tiếp cận lịch sử đối với vị thế trẻ em:

  1. Tiếp cận dưới góc độ tình thương và lòng nhân đạo: Coi trẻ em là đối tượng thụ động, chỉ được giúp đỡ khi gặp hoàn cảnh khó khăn dựa trên lòng trắc ẩn.
  2. Tiếp cận dưới góc độ quyền con người: Xác định trẻ em là chủ thể mang quyền như người lớn, nhưng chưa phản ánh được đặc thù về sự non nớt thể chất và tinh thần.
  3. Tiếp cận dưới góc độ quyền trẻ em: Xem trẻ em vừa là chủ thể quyền cơ bản, vừa là nhóm xã hội đặc thù cần các cơ chế bảo vệ đặc biệt để phát triển toàn diện (đây là cách tiếp cận chủ đạo của đề tài).

Khung pháp lý được sử dụng bao gồm: Công ước CRC 1989 (4 nhóm quyền: sống còn, phát triển, bảo vệ, tham gia); Hiến pháp năm 2013 (Điều 19); Luật Trẻ em năm 2016 (Điều 12, 13, 14, 16, 43, 84 và Chương IV); Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 20, 26, 33); Luật Giáo dục năm 2019 (Điều 14); Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009; Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; Thông tư số 338/2016/TT-BTC; cùng các văn bản chỉ đạo của Đảng như Chỉ thị 38-CT/TW (1994), Chỉ thị 55-CT/TW (2000) và Chỉ thị 20-CT/TW (2012).

Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích và bình luận: Sử dụng xuyên suốt đề tài để làm rõ lý luận quyền con người, quyền trẻ em và đánh giá các quy phạm pháp luật hiện hành.
    • Phương pháp so sánh: So sánh quy định pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế (Chương 1) và so sánh sự chuyển biến tư duy lập pháp qua các thời kỳ (Chương 2).
    • Phương pháp chứng minh: Đưa ra các căn cứ pháp lý và dữ liệu thực tế tại Chương 2 để minh chứng cho các luận điểm.
    • Phương pháp diễn giải, quy nạp: Sử dụng tại Chương 1 để tổng hợp từ các hiện tượng đơn lẻ thành nguyên lý lý luận chung.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm văn bản pháp luật, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp phối hợp với USAID GIG (2018), số liệu tổng hợp 37 báo cáo đánh giá tác động chính sách (RIA) trong các dự án luật, kế hoạch phối hợp liên tịch giữa các cơ quan quản lý và các công trình nghiên cứu đã công bố của các học giả (Nguyễn Linh Giang, Đặng Dũng Chí, Nguyễn Văn Mạnh, Vũ Ngọc Bình, Phan Thị Lan Phương, Sandy Ruxton, Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Đăng Dung, Chu Mạnh Hùng...).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Chương 1 hệ thống hóa khái niệm và 5 đặc điểm cơ bản của quyền trẻ em: gắn liền với sự phát triển chưa hoàn thiện về thể chất - tinh thần; có một số quyền chưa thể tự thực hiện do giới hạn độ tuổi (bầu cử, ứng cử, kết hôn...); sở hữu các quyền đặc thù (khai sinh, sống cùng cha mẹ, nhận con nuôi); được ưu tiên bảo vệ bằng quy chế riêng biệt (không áp dụng hình phạt tử hình, tù chung thân, miễn học phí tiểu học); và luôn đòi hỏi cơ chế pháp lý quốc gia lẫn quốc tế để hiện thực hóa.

Về mặt nội dung, chương này phân tích 4 nhóm quyền theo CRC (sống còn, phát triển, bảo vệ, tham gia) và đối chiếu với quá trình nội luật hóa tại Việt Nam. Về phương thức bảo đảm, tác giả phân chia thành hai nhóm: phương thức pháp lý (đóng vai trò nòng cốt, gắn với quyền lực nhà nước) và các phương thức phi pháp lý (chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội). Cả hai nhóm có mối quan hệ biện chứng: các yếu tố phi pháp lý tạo tiền đề và điều kiện thực hiện, trong khi phương thức pháp lý là công cụ trực tiếp để ghi nhận và bảo vệ quyền.

Quy trình xây dựng VBQPPL theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) được phân tích gồm 4 giai đoạn gắn với việc bảo đảm quyền trẻ em:

  1. Giai đoạn lập đề nghị: Xác định nhu cầu, xây dựng cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn và thực hiện quy trình đánh giá tác động chính sách (RIA) theo 4 bước hướng dẫn tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.
  2. Giai đoạn soạn thảo: Cơ quan chủ trì soạn thảo chi tiết hóa chính sách thành các quy phạm cụ thể, rà soát tính thống nhất và lấy ý kiến các đối tượng chịu tác động.
  3. Giai đoạn thẩm định, thẩm tra: Cơ quan tư pháp (thẩm định) và các cơ quan của Quốc hội/HĐND (thẩm tra) kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi và việc bảo đảm quyền con người, quyền trẻ em.
  4. Giai đoạn trình, thông qua, ban hành: Các cơ quan có thẩm quyền thảo luận tập thể, biểu quyết thông qua và ban hành văn bản.

Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Chương 2 đánh giá toàn diện những thành tựu và hạn chế trong thực tiễn lập pháp tại Việt Nam. Về mặt thành tựu, hệ thống pháp luật ngày càng được đồng bộ; nhận thức của cán bộ được nâng cao; hình thành các cơ chế phối hợp liên ngành tiêu biểu (như Kế hoạch phối hợp ngày 05/3/2020 giữa Cục An toàn thông tin - Bộ Thông tin và Truyền thông với Cục Trẻ em - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về bảo vệ trẻ em trên không gian mạng theo Luật An ninh mạng).

Về mặt hạn chế, chương này chỉ ra những bất cập qua từng giai đoạn lập pháp:

  • Giai đoạn lập đề nghị và đánh giá tác động chính sách (RIA): Khâu xác định chính sách còn lúng túng; việc lồng ghép giới gắn với quyền trẻ em còn hình thức, thiếu số liệu phân tích tác động theo giới. Hoạt động lấy ý kiến trên cổng thông tin điện tử có lượt truy cập thấp, không tiếp cận được đồng bào vùng sâu vùng xa và hiếm khi lấy ý kiến trực tiếp từ trẻ em. Khảo sát thực tế 37 báo cáo đánh giá tác động chính sách cho thấy chất lượng đánh giá còn thấp.
  • Giai đoạn soạn thảo: Nhiều văn bản sao chép, thiếu nội dung quy định chi tiết; việc rà soát chồng chéo chưa nghiêm túc; tỷ lệ xin lùi, hoãn chương trình xây dựng luật còn phổ biến.
  • Giai đoạn thẩm định, thẩm tra: Việc bảo đảm quyền trẻ em chưa được quy định thành một nội dung thẩm tra độc lập, bắt buộc (như vấn đề bình đẳng giới), dẫn đến việc các cơ quan thẩm định dễ bỏ sót. Các cơ quan thẩm định chuyên môn tại Bộ Tư pháp (Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế, Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Vụ Pháp luật quốc tế) luôn trong tình trạng quá tải công việc, thiếu nhân sự có chuyên môn sâu.
  • Giai đoạn trình, thông qua: Thảo luận tại một số kỳ họp còn mang tính xuôi chiều, hạn chế thời gian phát biểu; ở cấp địa phương, một số văn bản của UBND vẫn do người đứng đầu thông qua mà không thảo luận tập thể theo luật định.
Tiêu chí phân tích trong 37 báo cáo RIA khảo sát Số lượng báo cáo Tỷ lệ / Chi tiết ghi nhận
Đánh giá tác động thủ tục hành chính 10 / 37 Nêu "không có tác động" hoặc bỏ qua nội dung này
Phương pháp đánh giá định tính đơn thuần 22 / 37 Đánh giá cảm tính, thiếu số liệu thực nghiệm
Báo cáo có sử dụng nhiều số liệu chứng minh 07 / 37 Phân tích định lượng chuyên sâu
Báo cáo có sử dụng số liệu về kinh tế/TTHC 08 / 37 Có số liệu nhưng phạm vi hẹp

Nguyên nhân của hạn chế được xác định gồm:

  • Khách quan: Điều kiện kinh tế - xã hội của nước đang phát triển; tàn dư tư duy bao cấp; rào cản tập quán văn hóa gia đình truyền thống (coi việc xử phạt thể xác là biện pháp giáo dục, yêu cầu trẻ em phục tùng tuyệt đối).
  • Chủ quan: Quy định pháp luật chưa phân định rõ trách nhiệm cá nhân; định mức kinh phí cho công tác soạn thảo văn bản theo Thông tư số 338/2016/TT-BTC còn rất hạn chế, đặc biệt ở cấp địa phương; tổ chức bộ máy và chất lượng nguồn nhân lực làm công tác lập pháp còn thiếu và yếu.

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Chương 3 đề xuất định hướng và 7 nhóm giải pháp nhằm khắc phục các bất cập:

  1. Giải pháp pháp lý: Sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành VBQPPL theo hướng quy định bắt buộc việc thẩm định, thẩm tra độc lập về bảo đảm quyền trẻ em đối với các dự án luật liên quan; quy định rõ trách nhiệm pháp lý và chế tài đối với các cơ quan, cá nhân vi phạm quy trình lập pháp.
  2. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm của Nhà nước: Quán triệt thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 20-CT/TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị trong toàn bộ quy trình xây dựng chính sách.
  3. Giải pháp về tổ chức bộ máy và con người: Bổ sung biên chế, thành lập tổ chuyên trách về quyền trẻ em tại các cơ quan thẩm định; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng phân tích chính sách và kỹ thuật lập pháp cho đội ngũ công chức.
  4. Giải pháp về điều kiện vật chất: Sửa đổi Thông tư số 338/2016/TT-BTC để nâng định mức phân bổ kinh phí cho hoạt động soạn thảo, điều tra xã hội học, tổ chức hội thảo khoa học và lấy ý kiến phản biện xã hội từ trẻ em.
  5. Giải pháp về phối hợp liên ngành: Hoàn thiện cơ chế chia sẻ thông tin, phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các cơ quan của Quốc hội và các tổ chức xã hội.
  6. Tiếp thu kinh nghiệm quốc tế: Nghiên cứu quy trình đánh giá tác động quyền trẻ em (CRIA) từ các quốc gia phát triển để áp dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam.
  7. Giải pháp truyền thông, tư tưởng: Tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quyền trẻ em cho cộng đồng và cán bộ công quyền nhằm xóa bỏ định kiến văn hóa lạc hậu.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả thực chứng: Khóa luận đã hệ thống hóa và phân tích số liệu thực tế từ 37 báo cáo đánh giá tác động chính sách (RIA), chỉ ra tỷ lệ áp dụng phương pháp định lượng còn rất thấp (chỉ 07/37 báo cáo có số liệu phong phú; 22/37 báo cáo thuần định tính). Đề tài cũng ghi nhận các bước tiến trong cơ chế liên tịch bảo vệ trẻ em trên không gian mạng (ngày 05/3/2020).
  • Đóng góp về giải pháp: Đề xuất bổ sung nội dung bảo đảm quyền trẻ em thành một tiêu chí thẩm tra bắt buộc trong Luật Ban hành VBQPPL (tương tự như lồng ghép bình đẳng giới); kiến nghị sửa đổi quy định tài chính tại Thông tư số 338/2016/TT-BTC để đáp ứng nhu cầu khảo sát thực tiễn.
  • Đóng góp học thuật: Khóa luận kết nối lý luận quyền con người với kỹ thuật lập pháp, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu khi xem xét quyền trẻ em dưới góc độ một quy trình kỹ thuật lập quy 4 giai đoạn thay vì chỉ tiếp cận dưới giác độ nội dung quyền thông thường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tế của đề tài chủ yếu tập trung vào các văn bản và báo cáo đánh giá tác động ở cấp trung ương từ năm 2005 đến nay; dữ liệu khảo sát 37 báo cáo RIA chưa bao quát hết toàn bộ các dự án luật chuyên ngành kinh tế; chưa thực hiện được các khảo sát xã hội học quy mô lớn tại vùng sâu, vùng xa về mức độ tiếp cận lấy ý kiến của trẻ em.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quy trình bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng VBQPPL của chính quyền địa phương (HĐND, UBND cấp tỉnh, huyện); nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tác động quyền trẻ em (CRIA) chuyên biệt cho Việt Nam; khảo sát cơ chế số hóa trong việc thu thập ý kiến trực tuyến của trẻ em vào quá trình lập pháp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật học (Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, Luật Hành chính, Luật Nhân quyền). Nội dung phân tích quy trình 4 giai đoạn lập pháp và các bất cập tại Chương 2 cung cấp tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Xây dựng văn bản pháp luật.

Đồng thời, kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho cán bộ pháp chế tại các Bộ, ngành, công chức làm công tác thẩm định tại Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, các đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND trong quá trình xem xét, thẩm tra các dự án văn bản pháp luật liên quan đến người chưa thành niên.


Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm trẻ em trong pháp luật Việt Nam có điểm gì khác biệt so với Công ước CRC và Bộ luật Dân sự năm 2015?
Theo Điều 1 CRC, trẻ em là người dưới 18 tuổi (trừ khi luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn). Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Trong khi đó, Khoản 1 Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Do đó, theo luật năm 2004, nhóm từ 16 đến dưới 18 tuổi là người chưa thành niên nhưng không thuộc phạm vi khái niệm trẻ em.

2. Khóa luận chỉ ra những hạn chế định lượng nào trong 37 báo cáo đánh giá tác động chính sách (RIA) được khảo sát?
Trong 37 báo cáo RIA được phân tích: có 10 báo cáo ghi "không có tác động về thủ tục hành chính" hoặc bỏ qua; 22 báo cáo chỉ đánh giá định tính đơn thuần; chỉ có 07 báo cáo sử dụng nhiều số liệu phân tích; và 08 báo cáo có số liệu đánh giá tác động kinh tế/thủ tục hành chính.

3. Tại sao công tác thẩm định, thẩm tra dự thảo VBQPPL về quyền trẻ em còn bị xem nhẹ?
Do Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 chưa quy định bảo đảm quyền trẻ em là một nội dung thẩm định, thẩm tra độc lập và bắt buộc (như vấn đề lồng ghép bình đẳng giới). Bên cạnh đó, các đơn vị chuyên môn của Bộ Tư pháp (Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế, Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Vụ Pháp luật quốc tế) chịu áp lực quá tải công việc trong khi đội ngũ cán bộ chuyên sâu còn mỏng.

4. Khóa luận đánh giá bất cập về kinh phí lập pháp theo Thông tư số 338/2016/TT-BTC như thế nào?
Định mức chi ngân sách cho công tác xây dựng VBQPPL theo Thông tư số 338/2016/TT-BTC còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu tổ chức điều tra xã hội học, khảo sát thực tế, thuê chuyên gia và lấy ý kiến đóng góp của người dân; mức kinh phí này tại cấp địa phương còn thấp hơn nhiều lần so với cấp trung ương.

5. Minh chứng tiêu biểu nào được tác giả nêu ra về sự phối hợp liên ngành bảo vệ trẻ em trong kỷ nguyên số?
Đó là sự kiện ngày 05/3/2020, Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) và Cục Trẻ em (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) ký kế hoạch phối hợp về bảo vệ trẻ em trên không gian mạng, nhằm triển khai các quy định của Luật An ninh mạng và Luật Trẻ em năm 2016.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng bảo đảm quyền trẻ em qua 4 giai đoạn của quy trình xây dựng VBQPPL tại Việt Nam từ năm 2005 đến nay. Dựa trên việc phân tích 37 báo cáo đánh giá tác động chính sách và các quy định pháp luật liên quan, tác giả đã chỉ rõ những điểm nghẽn về thể chế, nhân lực và kinh phí thực hiện. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, cung cấp cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện kỹ thuật lập pháp và nâng cao hiệu lực bảo vệ quyền trẻ em trong thực tiễn.