CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1. Quyền của trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 1. Định nghĩa quyền của trẻ em Quyền trẻ em chính là cách nói ngắn gọn của cụm từ “quyền con người của trẻ em”. Do đó, để có được khái niệm quyền trẻ em, chúng ta cần phải có cái nhìn tổng thể về khái niệm quyền con người; tìm hiểu khái niệm trẻ em cũng như những điểm khác biệt của trẻ em để cần phải qui định cho trẻ em các quyền riêng biệt; ngoài ra, chúng ta cũng cần phải biết được các cách tiếp cận vị thế của trẻ em trong xã hội để có thể nắm bắt được cách tiếp cận đúng đắn khi nói về vấn đề quyền trẻ em.
Thứ nhất, khái niệm quyền con người - Theo Văn phòng cao ủy LHQ về quyền con người: “Human rights are universal gurantees protecting inviduals and group against actions and omissions that interfere with fundamental freedoms, entitlements and human dignity”.2 Được hiểu là: “Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm người chống lại những hành động và sự bỏ mặc mà những điều này có thể làm tổn hại đến nhân phẩm, sự được phép hoặc tự do cơ bản”. - Theo Từ điển luật học: “Quyền con người là quyền của thành viên trong xã hội loài người – quyền của tất cả mọi người. Đó là nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực của con người được thể chế hóa (ghi nhận) trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia…”.3 Tuy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người nhưng có thể hiểu một cách cơ bản đó là: “Quyền con người chính là những quyền cơ bản mà mỗi con người đều được hưởng và các quyền này phải được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật”. Thứ hai, khái niệm trẻ em và đặc điểm riêng biệt của trẻ em Trẻ em là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như: Y học, xã hội học, tâm lý học, luật học.
Tùy thuộc vào mục tiêu và cấp độ, mỗi ngành khoa học lại những định nghĩa khác nhau về trẻ em. 2 Phương Minh, Quyền con người và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, http://quocphongthudo.vn/chong-dien-bien-hoa- binh/bai-1-quyen-con-nguoi-va-luat-nhan-quyen-quoc-te.html , truy cập ngày 01/03/2022.com/tu-dien-luat-hoc.php?q=Quy%E1%BB%81n%20con%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di , truy cập ngày 01/03/2022. 7 - Từ góc độ xã hội học, “trẻ em” được xác định là người có vị thế và vai trò xã hội khác với người lớn vì trẻ em là con người giai đoạn đang học cách tiếp nhận những chuẩn mực xã hội và đóng vai trò xã hội của mình. - Dưới góc độ tâm lý học, khái niệm “trẻ em” được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý – nhân cách con người.4 - Từ góc độ sinh học, “trẻ em” là một thuật ngữ chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người.5 - Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “trẻ em là giai đoạn phát triển của đời người từ lúc sơ sinh cho đến tuổi trưởng thành.
Có đặc điểm nổi bật là sự phát triển liên tục về thể chất và tâm thần…”.6 - Dưới góc độ pháp lý, Điều 1 CRC qui định: “trẻ em có nghĩa là tất cả những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn”7, Điều 1 Luật BVCSGDTE năm 2004 qui định: “trẻ em qui định trong luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”. Mặc dù tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau nhưng khái niệm trẻ em của các ngành khoa học có một điểm thống nhất đó là đều căn cứ vào độ tuổi để đưa ra khái niệm. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ pháp lý, chúng ta thường thấy một thuật ngữ có nghĩa tương tự với trẻ em đó là “người chưa thành niện” (NCTN). Khoản 1 Điều 20 BLDS năm 2015 qui định NCTN là người chưa đủ 18 tuổi.
Do đó, nếu căn cứ vào Luật BVCSGDTE năm 2004 thì có thể nói trẻ em là NCTN nhưng ngược lại nếu nói NCTN là trẻ em thì không chính xác vì nội hàm của thuật ngữ NCTN rộng hơn nội hàm của trẻ em (trẻ em không bao hàm đối tượng từ 16 tuổi tới chưa đủ 18 tuổi mặc dù đối tượng này là NCTN). Mặc khác, nếu căn cứ theo CRC, trẻ em lại đồng nghĩa với NCTN ở góc độ là tuổi tác (dưới 18 tuổi). Tuy nhiên, nếu hiểu theo hướng này thì sẽ có một hạn chế ở việc độ tuổi không được đóng khung mà tùy thuộc vào pháp luật quốc gia cho nên ở mỗi quốc gia nên có thể xảy ra hiện tượng “trẻ em quốc tế nhưng là người trưởng thành ở quốc gia” mà điển hình là tại Việt Nam. Những đặc điểm riêng biệt của trẻ em: - Trẻ em là lứa tuổi chưa có sự phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần.
Đây là đặc điểm đã được một số ngành khoa học như tâm lý học, y học,. Xuất phát từ đặc điểm này, cần phải có những cơ chế bảo vệ đặc thù cả dưới góc độ xã hội và 4 Vũ Dũng (chủ biên), “Từ điển tâm lý học”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000,tr. 5 Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên), “Tâm lý học trẻ em và lứa tổi mầm non”, Nxb.
Đại học Sư phạm Hà Nội, 2013.com/tu-dien-luat-hoc.php?q=Tr%E1%BA%BB%20em , truy cập ngày 01/03/2022.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Cong-uoc-cua-Lien-hop-quoc-ve-quyen-tre-em-233659.aspx , truy cập ngày 02/03/2022. 8 góc độ pháp luật để có thể giúp trẻ em (một đối tượng nằm trong nhóm đối tượng dễ bị tổn thương) có được sự phát triển bình thường. - “Trẻ em cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội cả về mặt pháp lý”. Việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em là công việc của toàn xã hội mà không phải là của riêng Nhà nước và việc bảo vệ các em phải bằng những cơ chế đặc biệt và hữu hiệu.8 Thứ ba, vị thế của trẻ em từ những cách tiếp cận khác nhau Trong lịch sử loài người, trẻ em được quan tâm chăm sóc ở những mức độ khác nhau tùy từng điều kiện và hoàn cảnh lịch sử.
Việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phụ thuộc rất nhiều vào cách tiếp cận của các chủ thể trong xã hội đối với vị thế và vai trò của trẻ em. Nhìn chung, xã hội loài người tồn tại ba cách tiếp cận cơ bản: - Tiếp cận dưới góc độ tình thương và lòng nhân đạo: Cách tiếp cận này xem “trẻ em là đối tượng phụ thuộc nhưng cần được xã hội bảo vệ. Sự bảo vệ, giúp đỡ tùy thuộc vào lòng trắc ẩn của mọi người trước những tình huống khẩn cấp đe dọa cuộc sống của trẻ em hay những hoàn cảnh khó khăn, đau khổ của trẻ em và dừng lại khi những tình huống đó cơ bản đã được giải quyết”. Cách tiếp cận này có một hạn chế rất lớn đó là việc bảo vệ trẻ em được xuất phát từ lòng trắc ẩn của con người nghĩa là bảo vệ trẻ em theo kiểu “thương thì bảo vệ, không thương thì thôi” mà không qui định đó là nghĩa vụ đối với các thành viên khác trong xã hội.
Mặt khác, trẻ em chỉ được giúp đỡ khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đau khổ hay tình huống đe dọa mạng sống còn trong điều kiện bình thường, trẻ em sẽ không được bảo vệ. - Tiếp cận dưới góc độ quyền con người: Cách tiếp cận này xem “trẻ em cũng là những con người, những thành viên của xã hội, những công dân của quốc gia nên phải là chủ thể của quyền như người lớn và phải được các chủ thể khác tôn trọng, thực hiện các quyền đó thường xuyên, theo đúng qui định pháp luật”. Cách tiếp cận này có ưu điểm là xem trẻ em là một con người, một chủ thể của quyền nên trẻ em cũng sẽ được bảo vệ các quyền con người như các chủ thể khác và việc bảo quyền trẻ em được qui định trong pháp luật là nghĩa vụ bắt buộc đối với các chủ thể khác. Tuy nhiên, điểm hạn chế của cách tiếp cận này là chưa nhận thấy được đặc điểm riêng biệt của trẻ em để qui định các quyền đặc thù cho các em.
- Tiếp cận dưới góc độ quyền trẻ em: Cách tiếp cận này xem “trẻ em là con người nhưng là những con người còn non nớt cả về thể chất và tinh thần, cần phải được bảo 8 Vũ Thị Kiều Trang, Nhập môn Tâm lý học trẻ em, https://daihoctantrao.vn/media/files/3-tlte.pdf, truy cập ngày 03/03/2022. 9 vệ đặc biệt. Vì vậy, trẻ em vừa phải được hưởng thụ các quyền tự do cơ bản của con người vừa phải được đáp ứng những nhu cầu đặc thù”. Cách tiếp cận này có ưu điểmlà không chỉ xem trẻ em là một công dân, một chủ thể của quyền để bảo vệ các em bằng các qui định của pháp luật mà còn xem trẻ em là một chủ thể có những đặc điểm riêng biệt đó là sự non nớt về thể chất và tinh thần.
Cách tiếp cận này yêu cầu chúng ta không chỉ bảo vệ các quyền con người của các em mà còn phải qui định các quyền đặc thù để giúp các em có thể phát triển bình thường. Đây là cách tiếp cận đúng đắn nhất cho thấy được vị thế của trẻ em trong xã hội. => Từ những cách hiểu về quyền con người và trẻ em như trên, có thể đưa ra một định nghĩa về quyền trẻ em như sau: “Quyền trẻ em hay quyền con người của trẻ em là những quyền cơ bản mà trẻ em với tư cách là con người, một chủ thể quyền được hưởng giống như những thành viên còn lại trong xã hội. Tuy nhiên, vì là một chủ thể đặc biệt rất dễ bị tổn thương nên ngoài những quyền cơ bản, quyền trẻ em còn bao gồm một số quyền đặc thù nhằm giúp trẻ em đạt được sự phát triển bình thường; đồng thời, các quyền của trẻ em phải được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật của quốc gia và quốc tế”.
Đặc điểm quyền của trẻ em Quyền trẻ em được coi là bộ phận của quyền con người, vì vậy mang đầy đủ các đặc điểm của quyền con người. Nhưng quyền em lại có các nét đặc thù với quyền con người nói chung ở chỗ: Do còn non nớt về thể chất và tinh thần, nên trẻ em được trao riêng một số quyền, trẻ em được ưu tiên một số quyền và trẻ em cũng chưa có đủ khả năng để thực hiện một số các quyền khác. Thứ nhất, bản thân trẻ em do non nớt về thể chất và tinh thần, rất dễ bị tổn thương.