Bảo đảm quyền của trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật khóa luận tốt nghiệp 10đ

Khóa luận phân tích vai trò bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao nhận thức và thực thi quyền trẻ em.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp
68
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1.1. Quyền của trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

1.2. Định nghĩa quyền của trẻ em

1.3. Đặc điểm quyền của trẻ em

1.4. Nội dung quyền của trẻ em

1.5. Phương thức bảo đảm quyền của trẻ em

1.6. Bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

1.7. Quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật với việc bảo đảm quyền của trẻ em

1.7.1. Giai đoạn lập đề nghị

1.7.2. Giai đoạn soạn thảo

1.7.3. Giai đoạn thẩm định, thẩm tra

1.7.4. Giai đoạn trình, thông qua, ban hành

1.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền của trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA TRẺ EM TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

2.1. Kết quả đạt được về bảo đảm quyền của trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

2.2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về quyền trẻ em ngày càng được chú trọng và hoàn thiện

2.3. Hệ thống pháp luật của Việt Nam dần đảm bảo các nhóm quyền cơ bản của trẻ em phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em

2.4. Việc đảm bảo quyền của trẻ em trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được quan tâm và hoàn thiện

2.4.1. Giai đoạn lập đề nghị

2.4.2. Giai đoạn soạn thảo

2.4.3. Giai đoạn thẩm định, thẩm tra

2.5. Hạn chế về bảo đảm quyền của trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

2.5.1. Giai đoạn lập đề nghị

2.5.2. Giai đoạn soạn thảo

2.5.3. Giai đoạn thẩm định, thẩm tra

2.5.4. Giai đoạn trình, thông qua, ban hành

2.6. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế đối với việc đảm bảo quyền trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

2.6.1. Nguyên nhân của thành tựu đối với việc đảm bảo quyền trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

2.6.2. Nguyên nhân của hạn chế đối với việc đảm bảo quyền trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

2.6.2.1. Do sự tác động của điều kiện kinh tế - xã hội
2.6.2.2. Hạn chế từ qui định pháp luật
2.6.2.3. Những hạn chế từ tổ chức bộ máy, con người
2.6.2.4. Những hạn chế từ các điều kiện vật chất
2.6.2.5. Sự phối hợp của các cơ quan hữu quan còn hạn chế
2.6.2.6. Trình độ hiểu biết của người dân về bảo đảm quyền trẻ em còn thấp

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA TRẺ EM TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

3.1. Quan điểm về bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

3.2. Giải pháp bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

3.2.1. Giải pháp về mặt pháp lý

3.2.2. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

3.2.3. Giải pháp về tổ chức bộ máy, con người

3.2.4. Giải pháp về các điều kiện vật chất

3.2.5. Giải pháp về phối hợp của các cơ quan hữu quan

3.2.6. Tiếp thu kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

3.2.7. Giải pháp về công tác truyền thông, tư tưởng

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Quyền trẻ em trong xây dựng văn bản pháp luật

Quyền trẻ em là một khái niệm quan trọng trong hệ thống pháp luật, đặc biệt trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật. Khái niệm này được hiểu là những quyền cơ bản mà trẻ em được hưởng, bao gồm quyền sống, quyền phát triển, quyền bảo vệ và quyền tham gia. Quyền trẻ em không chỉ là vấn đề đạo đức mà còn là yêu cầu pháp lý, được ghi nhận trong các văn bản quốc tế và quốc gia. Việc bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng văn bản pháp luật đòi hỏi sự thống nhất giữa các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng.

1.1. Định nghĩa quyền trẻ em

Quyền trẻ em là cách gọi ngắn gọn của cụm từ 'quyền con người của trẻ em'. Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền Trẻ Em (CRC), trẻ em là những người dưới 18 tuổi, và họ có quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Quyền trẻ em bao gồm các quyền cơ bản như quyền sống, quyền phát triển, quyền bảo vệ khỏi bạo lực và quyền tham gia vào các quyết định liên quan đến cuộc sống của mình. Việc hiểu rõ khái niệm này là cơ sở để xây dựng các văn bản pháp luật phù hợp và hiệu quả.

1.2. Đặc điểm quyền trẻ em

Quyền trẻ em có những đặc điểm riêng biệt so với quyền con người nói chung. Trẻ em là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ đặc biệt. Quyền trẻ em không chỉ bao gồm các quyền cơ bản mà còn nhấn mạnh đến quyền phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội. Điều này đòi hỏi các văn bản pháp luật phải có những quy định cụ thể, phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của trẻ em.

II. Bảo vệ quyền trẻ em trong xây dựng chính sách

Bảo vệ quyền trẻ em là một trong những mục tiêu quan trọng trong quá trình xây dựng chính sách. Việc này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cộng đồng. Bảo vệ quyền trẻ em không chỉ dừng lại ở việc ban hành các văn bản pháp luật mà còn cần đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các quy định này trong thực tiễn. Các chính sách trẻ em cần được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đáp ứng nhu cầu và quyền lợi của trẻ em.

2.1. Hệ thống pháp luật về trẻ em

Hệ thống pháp luật về trẻ em ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, đặc biệt sau khi tham gia Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền Trẻ Em (CRC). Các văn bản pháp luật như Luật Trẻ em, Bộ luật Dân sự và Bộ luật Hình sự đã ghi nhận và bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em. Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập trong quá trình thực thi, đòi hỏi sự hoàn thiện và cập nhật liên tục.

2.2. Thực trạng bảo vệ quyền trẻ em

Thực trạng bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam cho thấy nhiều tiến bộ nhưng cũng không ít thách thức. Mặc dù hệ thống pháp luật về trẻ em đã được hoàn thiện, tình trạng trẻ em bị xâm hại, bạo lực và lao động sớm vẫn còn tồn tại. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực hơn nữa từ các cơ quan chức năng và toàn xã hội trong việc thực thi và giám sát các văn bản pháp luật liên quan.

III. Giải pháp bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng văn bản pháp luật

Để bảo đảm quyền trẻ em trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Các giải pháp này bao gồm việc nâng cao nhận thức về quyền trẻ em, hoàn thiện hệ thống pháp luật về trẻ em, và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến việc đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn về quyền trẻ em để đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật.

3.1. Giải pháp pháp lý

Một trong những giải pháp quan trọng là hoàn thiện hệ thống pháp luật về trẻ em. Cần rà soát và sửa đổi các văn bản pháp luật hiện hành để đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất. Đồng thời, cần xây dựng các quy định cụ thể, chi tiết để bảo vệ quyền trẻ em trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế và an sinh xã hội.

3.2. Giải pháp tổ chức và nhân lực

Việc đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em là yếu tố then chốt. Cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu về quyền trẻ em và kỹ năng xây dựng văn bản pháp luật. Bên cạnh đó, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và tổ chức xã hội để đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình thực thi pháp luật.

12/02/2025
Bảo đảm quyền của trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật khóa luận tốt nghiệp 10đ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1. Quyền của trẻ em trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 1. Định nghĩa quyền của trẻ em Quyền trẻ em chính là cách nói ngắn gọn của cụm từ “quyền con người của trẻ em”. Do đó, để có được khái niệm quyền trẻ em, chúng ta cần phải có cái nhìn tổng thể về khái niệm quyền con người; tìm hiểu khái niệm trẻ em cũng như những điểm khác biệt của trẻ em để cần phải qui định cho trẻ em các quyền riêng biệt; ngoài ra, chúng ta cũng cần phải biết được các cách tiếp cận vị thế của trẻ em trong xã hội để có thể nắm bắt được cách tiếp cận đúng đắn khi nói về vấn đề quyền trẻ em.

Thứ nhất, khái niệm quyền con người - Theo Văn phòng cao ủy LHQ về quyền con người: “Human rights are universal gurantees protecting inviduals and group against actions and omissions that interfere with fundamental freedoms, entitlements and human dignity”.2 Được hiểu là: “Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm người chống lại những hành động và sự bỏ mặc mà những điều này có thể làm tổn hại đến nhân phẩm, sự được phép hoặc tự do cơ bản”. - Theo Từ điển luật học: “Quyền con người là quyền của thành viên trong xã hội loài người – quyền của tất cả mọi người. Đó là nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực của con người được thể chế hóa (ghi nhận) trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia…”.3 Tuy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người nhưng có thể hiểu một cách cơ bản đó là: “Quyền con người chính là những quyền cơ bản mà mỗi con người đều được hưởng và các quyền này phải được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật”. Thứ hai, khái niệm trẻ em và đặc điểm riêng biệt của trẻ em Trẻ em là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như: Y học, xã hội học, tâm lý học, luật học.

Tùy thuộc vào mục tiêu và cấp độ, mỗi ngành khoa học lại những định nghĩa khác nhau về trẻ em. 2 Phương Minh, Quyền con người và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, http://quocphongthudo.vn/chong-dien-bien-hoa- binh/bai-1-quyen-con-nguoi-va-luat-nhan-quyen-quoc-te.html , truy cập ngày 01/03/2022.com/tu-dien-luat-hoc.php?q=Quy%E1%BB%81n%20con%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di , truy cập ngày 01/03/2022. 7 - Từ góc độ xã hội học, “trẻ em” được xác định là người có vị thế và vai trò xã hội khác với người lớn vì trẻ em là con người giai đoạn đang học cách tiếp nhận những chuẩn mực xã hội và đóng vai trò xã hội của mình. - Dưới góc độ tâm lý học, khái niệm “trẻ em” được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý – nhân cách con người.4 - Từ góc độ sinh học, “trẻ em” là một thuật ngữ chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người.5 - Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “trẻ em là giai đoạn phát triển của đời người từ lúc sơ sinh cho đến tuổi trưởng thành.

Có đặc điểm nổi bật là sự phát triển liên tục về thể chất và tâm thần…”.6 - Dưới góc độ pháp lý, Điều 1 CRC qui định: “trẻ em có nghĩa là tất cả những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn”7, Điều 1 Luật BVCSGDTE năm 2004 qui định: “trẻ em qui định trong luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”. Mặc dù tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau nhưng khái niệm trẻ em của các ngành khoa học có một điểm thống nhất đó là đều căn cứ vào độ tuổi để đưa ra khái niệm. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ pháp lý, chúng ta thường thấy một thuật ngữ có nghĩa tương tự với trẻ em đó là “người chưa thành niện” (NCTN). Khoản 1 Điều 20 BLDS năm 2015 qui định NCTN là người chưa đủ 18 tuổi.

Do đó, nếu căn cứ vào Luật BVCSGDTE năm 2004 thì có thể nói trẻ em là NCTN nhưng ngược lại nếu nói NCTN là trẻ em thì không chính xác vì nội hàm của thuật ngữ NCTN rộng hơn nội hàm của trẻ em (trẻ em không bao hàm đối tượng từ 16 tuổi tới chưa đủ 18 tuổi mặc dù đối tượng này là NCTN). Mặc khác, nếu căn cứ theo CRC, trẻ em lại đồng nghĩa với NCTN ở góc độ là tuổi tác (dưới 18 tuổi). Tuy nhiên, nếu hiểu theo hướng này thì sẽ có một hạn chế ở việc độ tuổi không được đóng khung mà tùy thuộc vào pháp luật quốc gia cho nên ở mỗi quốc gia nên có thể xảy ra hiện tượng “trẻ em quốc tế nhưng là người trưởng thành ở quốc gia” mà điển hình là tại Việt Nam. Những đặc điểm riêng biệt của trẻ em: - Trẻ em là lứa tuổi chưa có sự phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần.

Đây là đặc điểm đã được một số ngành khoa học như tâm lý học, y học,. Xuất phát từ đặc điểm này, cần phải có những cơ chế bảo vệ đặc thù cả dưới góc độ xã hội và 4 Vũ Dũng (chủ biên), “Từ điển tâm lý học”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000,tr. 5 Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên), “Tâm lý học trẻ em và lứa tổi mầm non”, Nxb.

Đại học Sư phạm Hà Nội, 2013.com/tu-dien-luat-hoc.php?q=Tr%E1%BA%BB%20em , truy cập ngày 01/03/2022.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Cong-uoc-cua-Lien-hop-quoc-ve-quyen-tre-em-233659.aspx , truy cập ngày 02/03/2022. 8 góc độ pháp luật để có thể giúp trẻ em (một đối tượng nằm trong nhóm đối tượng dễ bị tổn thương) có được sự phát triển bình thường. - “Trẻ em cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội cả về mặt pháp lý”. Việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em là công việc của toàn xã hội mà không phải là của riêng Nhà nước và việc bảo vệ các em phải bằng những cơ chế đặc biệt và hữu hiệu.8 Thứ ba, vị thế của trẻ em từ những cách tiếp cận khác nhau Trong lịch sử loài người, trẻ em được quan tâm chăm sóc ở những mức độ khác nhau tùy từng điều kiện và hoàn cảnh lịch sử.

Việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phụ thuộc rất nhiều vào cách tiếp cận của các chủ thể trong xã hội đối với vị thế và vai trò của trẻ em. Nhìn chung, xã hội loài người tồn tại ba cách tiếp cận cơ bản: - Tiếp cận dưới góc độ tình thương và lòng nhân đạo: Cách tiếp cận này xem “trẻ em là đối tượng phụ thuộc nhưng cần được xã hội bảo vệ. Sự bảo vệ, giúp đỡ tùy thuộc vào lòng trắc ẩn của mọi người trước những tình huống khẩn cấp đe dọa cuộc sống của trẻ em hay những hoàn cảnh khó khăn, đau khổ của trẻ em và dừng lại khi những tình huống đó cơ bản đã được giải quyết”. Cách tiếp cận này có một hạn chế rất lớn đó là việc bảo vệ trẻ em được xuất phát từ lòng trắc ẩn của con người nghĩa là bảo vệ trẻ em theo kiểu “thương thì bảo vệ, không thương thì thôi” mà không qui định đó là nghĩa vụ đối với các thành viên khác trong xã hội.

Mặt khác, trẻ em chỉ được giúp đỡ khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đau khổ hay tình huống đe dọa mạng sống còn trong điều kiện bình thường, trẻ em sẽ không được bảo vệ. - Tiếp cận dưới góc độ quyền con người: Cách tiếp cận này xem “trẻ em cũng là những con người, những thành viên của xã hội, những công dân của quốc gia nên phải là chủ thể của quyền như người lớn và phải được các chủ thể khác tôn trọng, thực hiện các quyền đó thường xuyên, theo đúng qui định pháp luật”. Cách tiếp cận này có ưu điểm là xem trẻ em là một con người, một chủ thể của quyền nên trẻ em cũng sẽ được bảo vệ các quyền con người như các chủ thể khác và việc bảo quyền trẻ em được qui định trong pháp luật là nghĩa vụ bắt buộc đối với các chủ thể khác. Tuy nhiên, điểm hạn chế của cách tiếp cận này là chưa nhận thấy được đặc điểm riêng biệt của trẻ em để qui định các quyền đặc thù cho các em.

- Tiếp cận dưới góc độ quyền trẻ em: Cách tiếp cận này xem “trẻ em là con người nhưng là những con người còn non nớt cả về thể chất và tinh thần, cần phải được bảo 8 Vũ Thị Kiều Trang, Nhập môn Tâm lý học trẻ em, https://daihoctantrao.vn/media/files/3-tlte.pdf, truy cập ngày 03/03/2022. 9 vệ đặc biệt. Vì vậy, trẻ em vừa phải được hưởng thụ các quyền tự do cơ bản của con người vừa phải được đáp ứng những nhu cầu đặc thù”. Cách tiếp cận này có ưu điểmlà không chỉ xem trẻ em là một công dân, một chủ thể của quyền để bảo vệ các em bằng các qui định của pháp luật mà còn xem trẻ em là một chủ thể có những đặc điểm riêng biệt đó là sự non nớt về thể chất và tinh thần.

Cách tiếp cận này yêu cầu chúng ta không chỉ bảo vệ các quyền con người của các em mà còn phải qui định các quyền đặc thù để giúp các em có thể phát triển bình thường. Đây là cách tiếp cận đúng đắn nhất cho thấy được vị thế của trẻ em trong xã hội. => Từ những cách hiểu về quyền con người và trẻ em như trên, có thể đưa ra một định nghĩa về quyền trẻ em như sau: “Quyền trẻ em hay quyền con người của trẻ em là những quyền cơ bản mà trẻ em với tư cách là con người, một chủ thể quyền được hưởng giống như những thành viên còn lại trong xã hội. Tuy nhiên, vì là một chủ thể đặc biệt rất dễ bị tổn thương nên ngoài những quyền cơ bản, quyền trẻ em còn bao gồm một số quyền đặc thù nhằm giúp trẻ em đạt được sự phát triển bình thường; đồng thời, các quyền của trẻ em phải được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật của quốc gia và quốc tế”.

Đặc điểm quyền của trẻ em Quyền trẻ em được coi là bộ phận của quyền con người, vì vậy mang đầy đủ các đặc điểm của quyền con người. Nhưng quyền em lại có các nét đặc thù với quyền con người nói chung ở chỗ: Do còn non nớt về thể chất và tinh thần, nên trẻ em được trao riêng một số quyền, trẻ em được ưu tiên một số quyền và trẻ em cũng chưa có đủ khả năng để thực hiện một số các quyền khác. Thứ nhất, bản thân trẻ em do non nớt về thể chất và tinh thần, rất dễ bị tổn thương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bảo đảm quyền trẻ em trong xây dựng văn bản pháp luật - Khóa luận tốt nghiệp 10đ là một bài viết chuyên sâu tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ quyền trẻ em thông qua quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lồng ghép các nguyên tắc quốc tế về quyền trẻ em vào luật pháp trong nước, đồng thời đưa ra các ví dụ cụ thể và khuyến nghị để đảm bảo tính hiệu quả và thực thi. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực pháp lý và bảo vệ quyền trẻ em, cung cấp cái nhìn toàn diện và chi tiết về chủ đề này.

Để mở rộng kiến thức, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu hoàn thiện pháp luật để thực hiện các khuyến nghị của uỷ ban liên hợp quốc về quyền trẻ em tại việt nam, nơi đi sâu vào việc áp dụng các khuyến nghị quốc tế vào hệ thống pháp luật Việt Nam. Nếu bạn quan tâm đến các vấn đề pháp lý khác, Luận văn thạc sĩ luật học giải quyết vụ án hành chính về đất đai trên địa bàn tỉnh đắk lắk thực trạng và giải pháp cũng là một tài liệu đáng đọc, cung cấp góc nhìn thực tiễn về giải quyết tranh chấp đất đai.