CHƯƠNG 1. VĂN HOÁ HỌC VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM Giới thiệu Văn hóa học và văn hóa Việt Nam cung cấp cho sinh viên những hiểu biết về giá trị của văn hóa trong đời sống cộng đồng, tiến trình hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam từ thời sơ khai qua các giai đoạn phát triển đến ngày nay, những giá trị của văn hóa nhận thức Việt biểu hiện bằng triết lý Âm- Dương, ngũ hành, lịch Can - Chi. Mục tiêu - Trình bày được những kiến thức lý luận về văn hóa Việt Nam; phân tích, nhận diện, phân biệt được các sản phẩm văn hóa bản địa truyền thống. - Sử dụng triết lý Âm-Dương vào món ăn, nhà ở.
- Quí trọng những giá trị sáng tạo của văn hóa truyền thống Việt Nam, có ý thức giữ gìn những nét đẹp của văn hóa truyền thống Việt trong cuộc sống. Nội dung chính 1. Văn hoá và văn hoá học 1. Khái niệm văn hoá Trong quá trình sống, con người luôn tương tác với các điều kiện tự nhiên xã hội để không ngừng cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Từ xa xưa, trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên, con người đã sáng tạo ra các sản phẩm: công cụ lao động, chế biến thức ăn, tổ chức nơi ở, quần áo… Qua lịch sử phát triển cộng đồng, dần dần hình thành những cách thức tổ chức gia đình, làng xã, quốc gia với những giá trị tinh thần nhân ái, đoàn kết. Những sáng tạo nâng cao chất lượng cuộc sống của các cộng đồng cư dân là những sáng tạo văn hóa. Có thể nói văn hóa là một phạm trù rộng lớn bao gồm các lĩnh vực: tổ chức đời sống, phong tục, nghệ thuật, ăn, mặc, ở, đi lại… Văn hóa Việt Nam được hình thành từ lâu đời, có những nét đặt sắc và có nhiều giá trị còn được bảo tồn, phát huy trong đời sống hiện nay. Thông qua các sinh hoạt hằng ngày, các dịp lễ hội, các sáng tạo văn hóa truyền thống được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
9 Bên cạnh các giá trị văn hóa cổ truyền thuần Việt, cộng đồng người Việt Nam cũng tiếp nhận các yếu tố văn hóa từ khu vực và thế giới. Các yếu tố văn hóa này góp phần làm phong phú thêm đời sống vật chất, tinh thần cho cộng đồng người Việt và trở thành một bộ phận không thể tách rời trong văn hóa Việt Nam.Ư 5 (khóa VIII) của Đảng về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, khẳng định “Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”. Năm 2002, Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.
Theo định nghĩa của UNESCO, văn hóa chứa đựng cả yếu tố vật chất và phi vật chất, tuy nhiên vai trò chủ yếu của văn hóa là về lĩnh vực tinh thần - phi vật chất (tâm hồn, tri thức, cảm xúc, văn học, nghệ thuật, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, đức tin…). Như vậy, có thể khẳng định một cách tổng quát: Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Con người nhận thức về vũ trụ trời đất và về chính con người gọi chung là văn hóa nhận thức. Con người tổ chức đời sống gia đình, xã hội của con người được biểu hiện ra những đặc trưng, đặc điểm, phù hợp với điều kiện thiên nhiên và xã hội con người trong quá trình lịch sử.
Ở mặt này gọi là văn hoá tổ chức đời sống. Con người có nếp sống vật chất (ăn, ở, mặc, đi lại) và nếp sống tinh thần (hôn lễ, tang lễ, lễ hội, ứng xử giao tiếp) gọi chung là phong tục tập quán. Về khía cạnh này gọi là văn hóa nếp sống. Con người sáng tạo nghệ thuật (âm nhạc, sân khấu, nghệ thuật ngôn từ).
Về khía cạnh này gọi chung là văn hóa nghệ thuật. Con người sinh hoạt tôn ngưỡng tôn giáo. Về khía cạnh này gọi chung là văn hóa tín ngưỡng tôn giáo. Vai trò của văn hoá trong đời sống Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã nhấn mạnh 10 “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”. Tiếp tục phát triển các quan điểm trước đây về phát triển văn hóa, Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh hun đúc nên phẩm chất, cốt cách con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.
Nhấn mạnh xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Như vậy, quan niệm của Đảng ta về văn hóa cũng khẳng định “Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần”, nhưng đồng thời khẳng định vai trò của văn hóa “là nhu cầu thiết yếu của đời sống con người”, “ là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra các giá trị, sản phẩm làm giàu đẹp cuộc sống”, “là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh”, “là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước”. Đồng thời chỉ rõ vị trí của văn hóa. “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”, đã cho thấy trên thực tế vị trí và vai trò của văn hóa chưa được nhận thức và coi trọng đúng mức, văn hóa chưa được tiếp cận là nội dung mang tính bản chất, hữu cơ của chính các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, vẫn còn được coi là yếu tố “bên ngoài, bên cạnh” tác động qua lại với các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội.(1) Khi chưa nhận thức rõ văn hóa là một trong những nền tảng cốt lõi, cơ bản, mang tính bản chất của sự phát triển của cả kinh tế, chính trị và xã hội, thì trên thực tế chưa xác định đúng vị trí và vai trò của Văn hóa.
Và khi đó, văn hóa chưa thể đóng vai trò là sức mạnh nội sinh của sự phát triển. Đối tượng nghiên cứu Văn hóa học là khoa học nghiên cứu những giá trị sáng tạo vật chất, tinh thần của cộng đồng, của nhân loại; các giá trị này biểu hiện hệ thống qua: nhận thức, đạo đức, tôn giáo, phong tục, nghệ thuật, kĩ thuật. Văn hóa là các sáng tạo của cộng đồng mang tính hệ thống và lịch sử. Bởi vậy, nghiên cứu văn hóa cần chọn lọc, loại trừ các yếu tố nang tính cá thể, riêng lẻ.
Ví dụ, nghiên cứu về văn hóa cư trú của người Việt cần xác định lựa chọn khách thể nghiên cứu là ngôi nhà Việt truyền thống phổ biến ở những làng quê hoặc phố phường với cấu trúc ba gian, lợp mái; Loại trừ các ngôi nhà được xây dựng với dáng vẻ riêng hoặc kết cấu hiện đại. 11 Văn hóa học Việt Nam nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống ở các lĩnh vực: tổ chức đời sống, phong tục, tín ngưỡng… Sự tồn tại của các đối tượng nghiên cứu này thường mang tính tổng hợp. Ví dụ: Một Lễ hội dân gian là một phức thể bao gồm phong tục, tín ngưỡng, nghệ thuật, tổ chức tập thể. Các sản phẩm văn hóa tồn tại lâu dài trong đời sống cộng đồng, biểu hiện quan điểm, lối sống, lịch sử của cộng đồng.
Vì vậy cần được nghiên cứu, xem xét đánh giá một cách cẩn trọng. Nghiên cứu văn hóa cần có thái độ tôn trọng và khách quan, không nên có thái độ kì thị, vội vã áp đặt đối với các hoạt động văn hóa của các dân tộc. Đặc biệt là các nghi thức tín ngưỡng cổ xưa. Ví dụ:Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt hình thành nên hệ thống đền phủ.
Hằng năm, người dân tổ chức nghi thức hầu đồng. Hoạt động này một thời bị cấm với quan điểm cho rằng đây là mê tín, dị đoan. Thực tế, trong nghi thức hầu đồng có hát văn là một làn điệu ca hát dân gian có giá trị. Niềm tin trong tín ngưỡng này mang cốt lõi nhân văn là ca ngợi phẩm chất nhân ái, mong ước có cuộc sống yên bình, no ấm.
Phương pháp nghiên cứu - Quan sát, miêu tả: Quan sát là tri giác bằng giác quan một cách cụ thể đối với sản phẩm văn hóa. Có thể quan sát thực tế hoặc thông qua băng hình tư liệu. Quan sát thực tế là phương pháp tiếp cận sinh động, khách quan, ít bị phụ thuộc vào quan điệm, cách nhìn nhận của người khác. Vì vậy, phương pháp này có ưu thế nhất định trong nghiên cứu văn hóa.
Ví dụ: quan sát ngôi nhà truyền thống của người Bahnar để biết hình dáng cấu trúc, vật liệu, cách sử dụng không gian ở, sự ứng phó với thời tiết; quan sát cá hiện vật được trưng bày tại bảo tàng… Quan sát qua băng hình, tư liệu là phương pháp được vận dụng trong học tập, phù hợp với điều kiện không thể đi đến những nơi xa xôi.