Giáo trình Cơ sở Văn hóa Việt Nam | CĐ Kinh tế Kỹ thuật Vinatex

Giáo trình kinh tế về cơ sở văn hóa việt nam ngànhnghề tiếng anh tiếng nhật tiếng hàn trường cđ kinh tế kỹ thuật vinatex, biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, hệ thống hóa

Chuyên ngành

Tiếng Anh, Tiếng Nhật, Tiếng Hàn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2020

97
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI GIỚI THIỆU

1. CHƯƠNG 1: DẪN LUẬN

1.1. Phân biệt văn hóa với văn hiến, văn vật, văn minh. Đặc trưng và chức năng của văn hóa

2. CHƯƠNG 2: VĂN HÓA VỚI TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ CÁ NHÂN

2.1. Văn hóa và tự nhiên. Văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây

3. CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI VĂN HÓA

3.1. Tính truyền thống. Tính biến đổi. Tính kế thừa. Tiếp xúc - giao lưu và tiếp biến văn hóa

4. CHƯƠNG 4: CƠ CẤU CỦA HỆ THỐNG VĂN HÓA

5. CHƯƠNG 5: TIẾP CẬN VĂN HÓA VIỆT NAM

5.1. Điều kiện hình thành văn hóa Việt Nam. Điều kiện tự nhiên – kinh tế. Điều kiện chủ thể. Điều kiện lịch sử xã hội

6. CHƯƠNG 6: DIỄN TRÌNH VĂN HÓA VIỆT NAM

6.1. Giai đoạn hình thành những nền tảng. Văn hóa Việt Nam thời Bắc thuộc

7. CHƯƠNG 7: SÁU VÙNG VĂN HÓA VIỆT NAM

7.1. Khái niệm vùng văn hóa. Các vùng văn hóa Việt Nam

8. CHƯƠNG 8: DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam ngành nghề tiếng Anh Nhật Hàn

Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam được biên soạn nhằm phục vụ cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh, tiếng Nhật và tiếng Hàn tại trường CĐ Kinh tế Kỹ thuật Vinatex TP HCM. Nội dung giáo trình không chỉ cung cấp kiến thức về văn hóa Việt Nam mà còn giúp sinh viên hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ. Cấu trúc giáo trình bao gồm 8 chương, mỗi chương tập trung vào một khía cạnh khác nhau của văn hóa Việt Nam.

1.1. Mục tiêu của giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam

Mục tiêu chính của giáo trình là giúp sinh viên nắm vững các khái niệm cơ bản về văn hóa, từ đó phát triển kỹ năng phân tích và so sánh văn hóa giữa các quốc gia. Sinh viên sẽ được trang bị kiến thức cần thiết để hiểu rõ hơn về văn hóa Việt Nam và các nền văn hóa khác.

1.2. Cấu trúc và nội dung giáo trình

Giáo trình được chia thành 8 chương, mỗi chương đề cập đến các khía cạnh khác nhau của văn hóa như văn hóa với tự nhiên, xã hội, và cá nhân, biến đổi văn hóa, và danh nhân văn hóa Việt Nam. Mỗi chương đều có mục tiêu rõ ràng và nội dung phong phú.

II. Vấn đề và thách thức trong việc giảng dạy văn hóa Việt Nam

Việc giảng dạy văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay gặp nhiều thách thức. Sinh viên cần phải đối mặt với việc tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, điều này có thể dẫn đến sự nhầm lẫn về bản sắc văn hóa. Ngoài ra, việc thiếu tài liệu tham khảo chất lượng cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Sự đa dạng văn hóa và ảnh hưởng của toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa đã tạo ra sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ, nhưng cũng làm cho sinh viên dễ bị ảnh hưởng bởi các giá trị văn hóa khác. Điều này đòi hỏi giáo trình phải được cập nhật thường xuyên để phản ánh đúng thực tế.

2.2. Thiếu tài liệu và nguồn tham khảo chất lượng

Nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu chất lượng để phục vụ cho việc học tập. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng học tập mà còn làm giảm động lực học hỏi của sinh viên.

III. Phương pháp giảng dạy hiệu quả cho giáo trình văn hóa Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả giảng dạy giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam, các giảng viên cần áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sẽ giúp sinh viên tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả hơn.

3.1. Kết hợp lý thuyết và thực hành

Việc áp dụng các bài tập thực hành, thảo luận nhóm sẽ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các khái niệm văn hóa. Điều này cũng tạo cơ hội cho sinh viên thực hành kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm.

3.2. Sử dụng công nghệ trong giảng dạy

Công nghệ có thể được sử dụng để tạo ra các bài giảng sinh động hơn. Việc sử dụng video, hình ảnh minh họa sẽ giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về văn hóa Việt Nam.

IV. Ứng dụng thực tiễn của giáo trình văn hóa Việt Nam trong ngành nghề

Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam không chỉ có giá trị trong việc giảng dạy mà còn có ứng dụng thực tiễn trong các ngành nghề như du lịch, ngoại giao và kinh doanh quốc tế. Sinh viên sẽ được trang bị kiến thức cần thiết để làm việc trong môi trường đa văn hóa.

4.1. Ứng dụng trong ngành du lịch

Kiến thức về văn hóa Việt Nam sẽ giúp sinh viên làm việc hiệu quả trong ngành du lịch, nơi mà sự hiểu biết về văn hóa địa phương là rất quan trọng để phục vụ khách hàng.

4.2. Ứng dụng trong lĩnh vực ngoại giao

Sinh viên có thể áp dụng kiến thức văn hóa để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với các đối tác quốc tế, từ đó nâng cao hiệu quả công việc trong lĩnh vực ngoại giao.

V. Kết luận và tương lai của giáo trình văn hóa Việt Nam

Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam là một tài liệu quan trọng trong việc giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh, Nhật, Hàn. Tương lai của giáo trình cần được cập nhật và cải tiến để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của sinh viên.

5.1. Cần thiết phải cập nhật giáo trình

Giáo trình cần được cập nhật thường xuyên để phản ánh đúng thực tế văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. Việc này sẽ giúp sinh viên có cái nhìn toàn diện hơn về văn hóa.

5.2. Định hướng phát triển giáo trình trong tương lai

Trong tương lai, giáo trình cần được phát triển theo hướng tích cực hơn, chú trọng đến việc áp dụng công nghệ và phương pháp giảng dạy hiện đại để nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Dẫn luận 1.1 Những định nghĩa về văn hóa Văn hóa có rất nhiều nghĩa. Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa), theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn văn hóa. Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất c ả, từ nh ững s ản phẩm tinh vi hi ện đ ại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động… Chính với các hi ểu r ộng này, văn hóa mới là đối tượng đích thị của văn hóa học. Một cách hiểu khác, văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài ng ười.

Ở phương Đông, từ văn hoá đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm. Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Nga có từ kuitura. Những chữ này có chung gốc Latinh là chữ cultus animi là trồng tr ọt tinh thần. Vậy chữ cultus là văn hoá với hai khía cạnh: trồng tr ọt, thính ứng v ới t ự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp.

Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hoá không đơn giản và thay đổi theo thời gian thuật ng ữ văn hoá với nghĩa “canh tác tinh thần” được sử dụng vào thế kỉ XVII- XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lí, canh tác nông nghiệp. Vào th ế k ỉ XIX thuật ng ữ “văn hoá” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hoá (văn minh) thế giới có thể phân ra từ trình đ ộ thấp nhất đến trình độ cao nhất, và văn hoá của họ chiếm vị trí cao nhất. B ởi vì họ cho rằng bản chất văn hoá hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.

Taylor) là đại diện của họ. Theo ông, văn hoá là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội. Boas), ý nghĩa văn hoá được quy đ ịnh do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu nh ư “trí lực”, vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hoá”.

Văn hoá không xét ở m ức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Kluckhohn) quan niệm văn hoá là loại hành vi rõ ràng và ám th ị đã đ ược đúc kết và truyền lại PTIT 6 bằng biểu tượng, và nó hình thành quả độc đáo c ủa nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra. Tóm lại, khái niệm văn hóa là: “văn hóa là m ột hệ th ống h ữu c ơ các giá tr ị v ật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình ho ạt đ ộng th ực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” ĐỊNH NGHĨA VĂN HÓA CỦA UNESCO: Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh th ần và vật ch ất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay c ủa m ột nhóm ng ười trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những l ối s ống, nh ững quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và nh ững tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.

Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nh ờ văn hóa mà con ng ười t ự th ể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh t ồn cũng nh ư m ục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, ch ữ vi ết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công c ụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ nh ững sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.

Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh v ực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái m ới t ừ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, s ức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh.” Gần đây nhất, trong một bài viết của mình, PGS. Nguyễn Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hóa vào hai góc độ: – Góc rộng, hay góc nhìn “dân tộc học”, đây là góc chung của nhiều ngành khoa học xã hội. – Góc hẹp, góc thông dụng trong cuộc sống hàng ngày, còn gọi là góc báo chí. Theo cách hiểu góc rộng – văn hóa là toàn bộ cuộc s ống (n ếp s ống, l ối s ống) cả vật chất xã hội và tinh thần của từng cộng đồng.

Ví dụ: nghiên c ứu văn hóa Việt Nam là nghiên cứu lối sống của các dân tộc Việt Nam. Văn hóa từ góc nhìn “báo chí” tuy cũng có những cách hiểu rộng h ơn hay hẹp hơn, nhưng trước đây thường gắn với kiến thức của con người, c ủa xã h ội. Ngày nay, văn hóa dưới góc “báo chí” đã hướng về lối sống hơn là về kiến thức mà theo tác giả là lối sống gấp, đằng sau những biến động nhanh của xã hội. Phân biệt văn hóa với văn hiến, văn vật, văn minh 1.

Khái niệm văn minh Văn minh là danh từ Hán – Việt (văn là vẻ đẹp, minh là sáng), ch ỉ tia sáng c ủa đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, ngh ệ thu ật. Trong ti ếng Anh, Pháp, từ civilisation với nội hàm nghĩa văn minh, có từ căn g ốc La tinh là civitas với nghĩa gốc: đô thị, thành phố, và các nghĩa phái sinh: thị dân, công dân. Văn minh trong tiếng Đức là để chỉ các xã hội đã đạt được tới giai đoạn tổ chức đô thị và chữ viết. Tuy vậy, người ta vẫn hay sử dụng thuật ngữ văn minh đồng nghĩa với văn hóa.

Các học giả Anh và Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm văn hóa (culture), văn minh (civilisation) để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho mọi tập đoàn người. Thực ra, văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương di ện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại, ho ặc c ả nhân lo ại. Như vậy, văn minh khác với văn hóa ở ba điểm: Thứ nhất, trong khi văn hóa có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại. Thứ hai trong khi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất lẫn tinh thần thì văn minh chỉ thiên v ề khía c ạnh vật chất, kĩ thuật.

Thứ ba, trong khi văn hóa mang tính dân t ộc rõ r ệt thì văn minh thường mang tính siêu dân tộc – quốc tế. Ví dụ nền văn minh tin học hay văn minh hậu công nghiệp và văn hóa Việt Nam, văn hóa Nhật Bản, văn hóa Trung Qu ốc… Mặc dù giữa văn hóa và văn minh có một điểm gặp g ỡ nhau đó là do con ng ười sáng tạo ra. Khái niệm văn hiến Ở phương Đông, trong đó có Việt Nam, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm văn hiến. Có thể hiểu văn hiến là văn hóa theo cách dùng, cách hi ểu trong l ịch s ử.

T ừ đời Lý (1010) người Việt đã tự hào nước mình là một “văn hi ến chi bang”. Đ ến đời Lê (thế kỉ XV) Nguyễn Trãi viết “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hi ến chi bang”– (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến). Từ văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng ở đây là một khái niệm rộng chỉ một n ền văn hóa cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng. Văn hiến (hiến= hiền tài)– truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đ ẹp.

Đào Duy Anh khi giải thích từ “văn hiến” khẳng định: “là sách v ở” và nhân v ật t ốt trong một đời. Nói cách khác văn là văn hóa, hiến là hi ền tài, như vậy văn hi ến thiên về những giá trị tinh thần do những người có tài đức chuyên tải, thể hi ện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt. Khái niệm văn vật (vật = vật chất) Truyền thống văn hóa tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử và nhiều di tích lịch sử. “Hà Nội nghìn năm văn vật”.

Văn v ật còn là khái ni ệm h ẹp đ ể ch ỉ những công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái ni ệm văn v ật cũng thể hiện sâu sắc tính dân tộc và tính lịch sử. Khái niệm văn hi ến, văn v ật th ường gắn với phương Đông nông nghiệp trong khi khái niệm văn minh thường gắn với phương Tây đô thị. Đặc trưng và chức năng của văn hóa 2. Đặc trưng Đặc trưng thứ nhất tính hệ thống.

Đặc trưng này cần để phân hiệt hệ thống với tập hợp nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ