Chương 1: Dẫn luận 1.1 Những định nghĩa về văn hóa Văn hóa có rất nhiều nghĩa. Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa), theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn văn hóa. Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất c ả, từ nh ững s ản phẩm tinh vi hi ện đ ại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động… Chính với các hi ểu r ộng này, văn hóa mới là đối tượng đích thị của văn hóa học. Một cách hiểu khác, văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài ng ười.
Ở phương Đông, từ văn hoá đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm. Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Nga có từ kuitura. Những chữ này có chung gốc Latinh là chữ cultus animi là trồng tr ọt tinh thần. Vậy chữ cultus là văn hoá với hai khía cạnh: trồng tr ọt, thính ứng v ới t ự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp.
Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hoá không đơn giản và thay đổi theo thời gian thuật ng ữ văn hoá với nghĩa “canh tác tinh thần” được sử dụng vào thế kỉ XVII- XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lí, canh tác nông nghiệp. Vào th ế k ỉ XIX thuật ng ữ “văn hoá” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hoá (văn minh) thế giới có thể phân ra từ trình đ ộ thấp nhất đến trình độ cao nhất, và văn hoá của họ chiếm vị trí cao nhất. B ởi vì họ cho rằng bản chất văn hoá hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.
Taylor) là đại diện của họ. Theo ông, văn hoá là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội. Boas), ý nghĩa văn hoá được quy đ ịnh do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu nh ư “trí lực”, vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hoá”.
Văn hoá không xét ở m ức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Kluckhohn) quan niệm văn hoá là loại hành vi rõ ràng và ám th ị đã đ ược đúc kết và truyền lại PTIT 6 bằng biểu tượng, và nó hình thành quả độc đáo c ủa nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra. Tóm lại, khái niệm văn hóa là: “văn hóa là m ột hệ th ống h ữu c ơ các giá tr ị v ật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình ho ạt đ ộng th ực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” ĐỊNH NGHĨA VĂN HÓA CỦA UNESCO: Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh th ần và vật ch ất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay c ủa m ột nhóm ng ười trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những l ối s ống, nh ững quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và nh ững tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nh ờ văn hóa mà con ng ười t ự th ể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh t ồn cũng nh ư m ục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, ch ữ vi ết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công c ụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ nh ững sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.
Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh v ực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái m ới t ừ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, s ức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh.” Gần đây nhất, trong một bài viết của mình, PGS. Nguyễn Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hóa vào hai góc độ: – Góc rộng, hay góc nhìn “dân tộc học”, đây là góc chung của nhiều ngành khoa học xã hội. – Góc hẹp, góc thông dụng trong cuộc sống hàng ngày, còn gọi là góc báo chí. Theo cách hiểu góc rộng – văn hóa là toàn bộ cuộc s ống (n ếp s ống, l ối s ống) cả vật chất xã hội và tinh thần của từng cộng đồng.
Ví dụ: nghiên c ứu văn hóa Việt Nam là nghiên cứu lối sống của các dân tộc Việt Nam. Văn hóa từ góc nhìn “báo chí” tuy cũng có những cách hiểu rộng h ơn hay hẹp hơn, nhưng trước đây thường gắn với kiến thức của con người, c ủa xã h ội. Ngày nay, văn hóa dưới góc “báo chí” đã hướng về lối sống hơn là về kiến thức mà theo tác giả là lối sống gấp, đằng sau những biến động nhanh của xã hội. Phân biệt văn hóa với văn hiến, văn vật, văn minh 1.
Khái niệm văn minh Văn minh là danh từ Hán – Việt (văn là vẻ đẹp, minh là sáng), ch ỉ tia sáng c ủa đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, ngh ệ thu ật. Trong ti ếng Anh, Pháp, từ civilisation với nội hàm nghĩa văn minh, có từ căn g ốc La tinh là civitas với nghĩa gốc: đô thị, thành phố, và các nghĩa phái sinh: thị dân, công dân. Văn minh trong tiếng Đức là để chỉ các xã hội đã đạt được tới giai đoạn tổ chức đô thị và chữ viết. Tuy vậy, người ta vẫn hay sử dụng thuật ngữ văn minh đồng nghĩa với văn hóa.
Các học giả Anh và Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm văn hóa (culture), văn minh (civilisation) để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho mọi tập đoàn người. Thực ra, văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương di ện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại, ho ặc c ả nhân lo ại. Như vậy, văn minh khác với văn hóa ở ba điểm: Thứ nhất, trong khi văn hóa có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại. Thứ hai trong khi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất lẫn tinh thần thì văn minh chỉ thiên v ề khía c ạnh vật chất, kĩ thuật.
Thứ ba, trong khi văn hóa mang tính dân t ộc rõ r ệt thì văn minh thường mang tính siêu dân tộc – quốc tế. Ví dụ nền văn minh tin học hay văn minh hậu công nghiệp và văn hóa Việt Nam, văn hóa Nhật Bản, văn hóa Trung Qu ốc… Mặc dù giữa văn hóa và văn minh có một điểm gặp g ỡ nhau đó là do con ng ười sáng tạo ra. Khái niệm văn hiến Ở phương Đông, trong đó có Việt Nam, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm văn hiến. Có thể hiểu văn hiến là văn hóa theo cách dùng, cách hi ểu trong l ịch s ử.
T ừ đời Lý (1010) người Việt đã tự hào nước mình là một “văn hi ến chi bang”. Đ ến đời Lê (thế kỉ XV) Nguyễn Trãi viết “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hi ến chi bang”– (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến). Từ văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng ở đây là một khái niệm rộng chỉ một n ền văn hóa cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng. Văn hiến (hiến= hiền tài)– truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đ ẹp.
Đào Duy Anh khi giải thích từ “văn hiến” khẳng định: “là sách v ở” và nhân v ật t ốt trong một đời. Nói cách khác văn là văn hóa, hiến là hi ền tài, như vậy văn hi ến thiên về những giá trị tinh thần do những người có tài đức chuyên tải, thể hi ện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt. Khái niệm văn vật (vật = vật chất) Truyền thống văn hóa tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử và nhiều di tích lịch sử. “Hà Nội nghìn năm văn vật”.
Văn v ật còn là khái ni ệm h ẹp đ ể ch ỉ những công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái ni ệm văn v ật cũng thể hiện sâu sắc tính dân tộc và tính lịch sử. Khái niệm văn hi ến, văn v ật th ường gắn với phương Đông nông nghiệp trong khi khái niệm văn minh thường gắn với phương Tây đô thị. Đặc trưng và chức năng của văn hóa 2. Đặc trưng Đặc trưng thứ nhất tính hệ thống.
Đặc trưng này cần để phân hiệt hệ thống với tập hợp nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó.