Chú Giải Abhidhamma: Tổng Hợp Nội Dung Vô Tỷ Pháp Tập III - Chương V

Chuyên khảo phân tích Tổng hợp vô tỷ pháp 3b, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Viên Giác Tự

Chuyên ngành

Phật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

chú giải

2016

315
2
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG THỨ NĂM: VITHÌMUTTA SAṄGAHA – II TỔNG HỢP THOÁT LY LỘ TRÌNH – QUYỂN II

1.1. NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMÀSAMBUDDHASSA CUNG KỈNH ĐỨC THẾ TÔN, ỨNG CÚNG, CHÁNH BIẾN TRI

1.2. TỔNG HỢP NỘI DUNG VÔ TỶ PHÁP PHẦN PÀLI NGỮ VÀ LỜI DỊCH ĐỂ HỌC THUỘC LÒNG

1.3. Trình Bầy Mẫu Đề Tam Về Bộ Tứ Phần (Catukka)

1.4. KAMMACATUKKA – NGHIỆP LỰC TỨ PHẦN TRÌNH BẦY 16 LOẠI NGHIỆP LỰC ĐƯỢC PHÂN THÀNH BỐN NHÓM

1.4.1. Gọi là Nghiệp Lực, rằng theo Sự Vụ (Kicca) có được bốn thể loại

1.4.2. Gọi là Nghiệp Lực, rằng theo tuần tự của việc trổ sanh quả báo có được bốn thể loại

1.4.3. Gọi là Nghiệp Lực, rằng theo thời gian trổ sanh Quả Báo có được bốn thể loại

1.4.4. Gọi là Nghiệp Lực, rằng theo Trú Xứ (ṭhàna) cho trổ sanh Quả Báo cũng có bốn thể loại tương tự như nhau

1.4.5. Trình Bầy Việc Phân Tích Bất Thiện Nghiệp Lực (Akusalakamma) Theo Cả Tam Môn (Dvàra)

1.4.5.1. Trong cả bốn nhóm Nghiệp Lực ấy, rằng theo mãnh lực của lãnh địa làm thành chỗ nơi cho trổ sanh quả báo, thì có được ba thể loại Bất Thiện Nghiệp Lực nương theo mãnh lực từ nơi tác nhân cho thành tựu việc tạo tác
1.4.5.2. Thế nào ? Có ba thể loại Bất Thiện Nghiệp Lực, rằng theo mãnh lực từ nơi tác nhân cho thành tựu việc tạo tác, là những thể loại nào ?
1.4.5.3. Việc nói lời vọng ngôn, nói lời xúi xiểm ly gián, nói lời thô ác ngữ, nói lời không có lợi ích
1.4.5.4. Việc Tham Ác về tài sản của người khác một cách bất hợp pháp (Tham Ác), việc cừu hận oán kết người khác (Cừu Hận), việc thấy sai chấp lầm (Tà Kiến)

1.4.6. Trình Bầy Xuất Sinh Xứ (Samuṭṭhàna) Làm Thành Tác Nhân 12 Của Thập Bất Thiện Nghiệp Đạo (Akusalakammapatha 10)

1.4.7. Trong Thập Bất Thiện Nghiệp Lực ấy, thì việc sát mạng, việc nói lời thô ác ngữ, việc cừu hận oán kết (Ý Cừu Hận)

1.4.8. Tính dục tà hạnh, ý tham ác, ý tà kiến

1.4.9. Bốn Bất Thiện Nghiệp Lực còn lại, đó là việc thâu đạo, nói lời vọng ngôn, nói lời xúi xiểm ly gián, nói lời không có lợi ích

1.4.10. Rằng khi theo mãnh lực từ nơi việc sanh khởi tùy theo của bất luận một Tâm nào, thì Bất Thiện Nghiệp Lực nầy thì thường có 12

1.4.11. Ba Thể Loại Của Dục Giới Thiện Nghiệp Lực

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chú Giải Abhidhamma Nội Dung Vô Tỷ Pháp Tập III

Chú Giải Abhidhamma là một phần quan trọng trong giáo lý Phật giáo, đặc biệt là trong việc hiểu rõ về các khái niệm phức tạp của tâm lý học Phật giáo. Tập III của bộ sách này tập trung vào việc tổng hợp nội dung của Vô Tỷ Pháp, giúp người đọc nắm bắt được những nguyên lý cơ bản và ứng dụng của chúng trong thực tiễn. Nội dung của tập này không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có giá trị thực tiễn cao, giúp người học có cái nhìn sâu sắc hơn về giáo lý Phật giáo.

1.1. Abhidhamma Là Gì Khái Niệm Cơ Bản

Abhidhamma là một trong ba phần của Tam Tạng Kinh điển Phật giáo, bao gồm Vinaya, Sutta và Abhidhamma. Nó tập trung vào việc phân tích tâm lý và các hiện tượng tâm linh, giúp người học hiểu rõ hơn về bản chất của tâm và các yếu tố cấu thành nó.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Vô Tỷ Pháp Trong Phật Giáo

Vô Tỷ Pháp là một trong những khái niệm cốt lõi trong Abhidhamma, giúp người học nhận thức được sự vô thường, khổ đau và vô ngã của mọi hiện tượng. Việc hiểu rõ Vô Tỷ Pháp sẽ giúp người tu hành có được cái nhìn đúng đắn về cuộc sống và con đường giải thoát.

II. Những Thách Thức Trong Việc Nghiên Cứu Abhidhamma

Việc nghiên cứu Abhidhamma không phải là điều dễ dàng. Nhiều người gặp khó khăn trong việc hiểu các khái niệm phức tạp và cách áp dụng chúng vào thực tiễn. Thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt tài liệu và sự hướng dẫn từ các bậc thầy có kinh nghiệm. Điều này dẫn đến việc nhiều người không thể tiếp cận được những giá trị sâu sắc mà Abhidhamma mang lại.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Hiểu Các Khái Niệm Phức Tạp

Nhiều khái niệm trong Abhidhamma như Tâm, Tâm Sở, và Sắc Pháp có thể gây nhầm lẫn cho người mới bắt đầu. Việc thiếu các tài liệu giải thích rõ ràng và dễ hiểu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến khó khăn này.

2.2. Thiếu Hướng Dẫn Từ Các Bậc Thầy

Sự thiếu hụt các bậc thầy có kinh nghiệm trong việc giảng dạy Abhidhamma cũng là một thách thức lớn. Nhiều người học không có cơ hội để được hướng dẫn và giải đáp thắc mắc, dẫn đến việc họ không thể nắm bắt được những giá trị cốt lõi của giáo lý.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Abhidhamma Hiệu Quả

Để nghiên cứu Abhidhamma một cách hiệu quả, người học cần áp dụng các phương pháp học tập phù hợp. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành là rất quan trọng. Ngoài ra, việc tham gia vào các khóa học và nhóm nghiên cứu cũng giúp nâng cao hiểu biết và khả năng áp dụng các khái niệm trong thực tiễn.

3.1. Kết Hợp Giữa Lý Thuyết Và Thực Hành

Việc áp dụng các khái niệm Abhidhamma vào thực tiễn hàng ngày sẽ giúp người học hiểu rõ hơn về chúng. Thực hành thiền định và quan sát tâm sẽ giúp củng cố kiến thức lý thuyết.

3.2. Tham Gia Các Khóa Học Và Nhóm Nghiên Cứu

Tham gia vào các khóa học và nhóm nghiên cứu sẽ giúp người học có cơ hội trao đổi, thảo luận và học hỏi từ những người có kinh nghiệm. Điều này không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Abhidhamma Trong Cuộc Sống

Abhidhamma không chỉ là lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày. Việc hiểu rõ về tâm lý và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sẽ giúp con người có những quyết định đúng đắn hơn. Ngoài ra, Abhidhamma cũng giúp cải thiện mối quan hệ giữa con người với nhau.

4.1. Cải Thiện Mối Quan Hệ Giữa Con Người

Việc hiểu rõ về tâm lý và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sẽ giúp con người có những quyết định đúng đắn hơn trong các mối quan hệ. Điều này giúp xây dựng mối quan hệ tốt đẹp và bền vững.

4.2. Giải Quyết Các Vấn Đề Tâm Lý

Abhidhamma cung cấp những công cụ hữu ích để giải quyết các vấn đề tâm lý. Việc áp dụng các nguyên lý của Abhidhamma vào thực tiễn sẽ giúp con người vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.

V. Kết Luận Tương Lai Của Nghiên Cứu Abhidhamma

Nghiên cứu Abhidhamma có vai trò quan trọng trong việc phát triển tri thức và hiểu biết về giáo lý Phật giáo. Tương lai của nghiên cứu này phụ thuộc vào sự quan tâm và nỗ lực của cộng đồng Phật tử trong việc bảo tồn và phát triển các giá trị của Abhidhamma. Việc khôi phục và phát triển các tài liệu nghiên cứu sẽ giúp thế hệ sau có cơ hội tiếp cận với những giá trị quý báu này.

5.1. Tăng Cường Sự Quan Tâm Đến Abhidhamma

Cần có sự quan tâm hơn nữa từ cộng đồng Phật tử và các tổ chức giáo dục trong việc nghiên cứu và giảng dạy Abhidhamma. Điều này sẽ giúp nâng cao nhận thức và hiểu biết về giáo lý Phật giáo.

5.2. Phát Triển Tài Liệu Nghiên Cứu

Việc phát triển và biên soạn các tài liệu nghiên cứu về Abhidhamma sẽ giúp người học có thêm nguồn tài liệu tham khảo. Điều này không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và giảng dạy.

10/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU (của Ngài Đại Trưởng Lão Saddhamma Jotika) Lẽ thường thì khó mà bảo quản được vật báu có giá trị cao quý, nó cần phải nương vào người có sự hiểu biết trong việc bảo quản, có sự quan tâm để ý đến và phải là người có Phước Báu Ba La Mật. Khi hội đủ cả ba đặc tính nầy rồi, thì mới có khả năng bảo quản được vật có giá trị quý báu ấy, cho được bền vững lâu dài mà không bị hư hoại. Nếu thiếu đi người mà có phẩm hạnh như đã được đề cập đến ở đây, thì tài sản có giá trị cao quý ấy có thể hẵng là bị hư hoại đi. Chẳng hạn như người mà được tiếp nhận tài sản của thừa kế từ nơi người Mẹ người Cha hoặc Quyến Thuộc, thì một vài người có khả năng quản lý tài sản của cải ấy cho được thành tựu một cách tốt đẹp xuyên suốt cho đến hàng con cháu.

Tất cả sự việc nầy là cũng do bởi người ấy đã hội túc duyên với đủ cả ba thể loại ân đức ấy. Một vài người khi đã tiếp nhận của di sản mà đã được truyền thụ thì lại không có khả năng để quản lý trông nom tài sản của cải ấy cho được bền vững lâu dài; hoặc với tâm không có sự hiểu biết trong việc bảo quản; hoặc không có sự quan tâm để ý đến trong việc bảo quản khiến cho bị tổn thất hư hoại đi; hoặc là người vô phúc thiểu âm đức để bảo quản tài sản ấy, để cho phải bị nạn hỏa tai, hoặc bị nạn đạo tặc, hoặc bị nạn thủy tai, hay là bị nạn Vua Quan tịch thu. Điều nầy như thế nào thì trong lãnh vực tri kiến hiểu biết ở điều trọng yếu, truyền thống đạo đức tốt đẹp thì cũng giống như vậy. Nếu thiếu đi người có sự hiểu biết trong việc bảo quản, thì tri kiến hiểu biết ở điều trọng yếu, hay là truyền thống đạo đức hẵng là thường luôn bị hư hoại đi.

Trái lại thay vào đó, tri kiến hiểu biết và truyền thống đạo đức lại có liên quan đến việc dưỡng nuôi Ái Dục (Taṇhà), Ngã Mạn (Màna), và Tà Kiến (Diṭṭhi). Do bởi lý do nầy mới cần phải có người có sự hiểu biết và có sự quan tâm để ý đến trong việc bảo quản điều tốt đẹp nầy; đến để trông nom, gìn giữ và bảo hộ điều tốt đẹp nầy cho được tồn tại bền vững lâu dài. Trong thời buổi hiện tại nầy, thì truyền thống đạo đức và tri kiến hiểu biết ở trong lãnh vực Phật Giáo hẵng là đã bị tiêu hoại đi chẳng phải là không ít. Tất cả sự việc nầy là cũng do bởi người dân trong những quốc độ ấy không có sự thẩm thấu hiểu biết, hoặc không có sự quan tâm để ý đến việc bảo quản, hoặc chính thực bản thân mình là vô phước vô phần để sẽ được trông nom gìn giữ.

Chẳng hạn như ở trong đất nước Ấn Độ, thoạt đầu thì tri kiến hiểu biết trong lãnh vực Phật Giáo quả là tốt đẹp, việc tu tập về Pháp Hành An Chỉ và Minh Sát thật là tốt đẹp, hoặc truyền thống đạo đức ở phần trau giồi tu tập một cách thường nhiên thật là tốt đẹp, và đã có sự tiến hóa cực thịnh ở trong thời kỳ ấy. Tuy nhiên trong thời buổi hiện tại nầy thì những sự tiến hóa về các sự việc ấy đã bị tiêu hoại đi đến nỗi gần như đã bị hoại diệt. Khi đã được nhìn thấy sự hiện hành của tất cả người dân hiện hữu ở nơi quốc độ ấy trong thời điểm nầy rồi, thì chắc có lẽ hoàn toàn không thể tin được rằng đã từng là đất nước có nền Phật Giáo cực thịnh trước kia, là bởi 2 do có được tiếp xúc từ tri kiến hiểu biết và truyền thống đạo đức thông qua việc thực hành theo Giáo Pháp của cái cũ và cái mới, mà liên quan với việc dưỡng nuôi làm thỏa mãn phần lớn về Ái Dục, Ngã Mạn, và Tà Kiến. Sự hiện hành như vậy, chẳng phải chỉ có riêng biệt là ở trong đất nước Ấn Độ không thôi, thậm chí ở trong đất nước khác mà đã từng có sự phát triển với tri kiến hiểu biết (Pháp Học) và việc tu tập về Pháp Hành An Chỉ và Minh Sát (Pháp Hành), truyền thống đạo đức và xuyên suốt cho đến lễ nghĩa của người dân ở trong đất nước ấy, cũng có sự việc nầy sự việc nọ và cũng bị tiêu hoại đi tương tự như nhau.

Thêm vào đó hết tất cả lại thay thế với phần đức tin sai khác, phần tri kiến hiểu biết sai khác, phần truyền thống đạo đức sai khác, thì những thế hệ trẻ sau nầy không có ai có thể hiểu biết được một cách thấu đáo với sự việc xẩy ra, đua nhau hiểu biết đi theo tri kiến của người có quyền lực đang hiện bầy trong thời lúc hiện tại nầy. Tri kiến hiểu biết (Pháp Học) và việc trau giồi tu tập (Pháp Hành) trong lãnh vực Phật Giáo có ân đức cao quý đó, chính là tri kiến hiểu biết trong Tạng Vô Tỷ Pháp và việc tu tập về Pháp Hành An Chỉ và Minh Sát. Sự việc Bần Đạo đề cập đến như vậy, chẳng phải vì Bần Đạo là vị Giáo Thọ giảng dạy Tạng Vô Tỷ Pháp mới có đề cập đến như vậy. Việc Bần Đạo đề cập tại đây là thể theo sự thật, là theo nền tảng của Phật Ngôn và thành quả Chú Giải Phụ Chú Giải mà đã được gặt hái từ sự nghiên cứu Tạng Vô Tỷ Pháp và tu tập Thiền Minh Sát đã đang hiện bầy ở trong hàng Phật Tử, đó là nền tảng xác chứng hiện thực, do đó không cần phải đề cập dông dài cho thêm nhiều chi tiết nữa.

Còn thành quả của việc gặt hái từ sự nghiên cứu Tạng Vô Tỷ Pháp và tu tập Thiền Minh Sát sẽ bị hư hoại đi là của người không chính chắn tu tập, luôn cả không có tâm thức thanh tịnh, cũng thường hằng có là lẽ thường nhiên, tuy nhiên không phải là số lượng nhiều. Chí đến trong thời kỳ của Đức Phật, khi mà bậc Chánh Đẳng Giác vẫn đang còn hiện hữu, thì thành quả nầy bị hư hoại đi, cũng vẫn có ở trong cả hạng người xuất gia và tại gia. Chính việc nhận thấy của Bần Đạo như đã đề cập đến tại đây, làm thành nguyên nhân khiến cho Bần Đạo gắng sức nỗ lực giảng dạy và soạn tác những kinh điển mà có liên quan với Tạng Vô Tỷ Pháp và phương hướng tu tập Thiền Minh Sát trong thời gian mười hai năm qua, với hy vọng sẽ làm cho người có tâm vui thích học hỏi Giáo Pháp của bậc Chánh Đẳng Giác được thấu hiểu đến phần Giáo Pháp thậm thâm vi tế, tức là Tạng Vô Tỷ Pháp nầy vậy. Quyển kinh sách nầy đã được hoàn thành cũng do nhờ vào sự hợp tác của các học viên trong lãnh vực biên soạn; Guṇavaṇṇì, Komesa là những người giúp đỡ về phương diện tài chánh và cũng có rất nhiều học viên đã hợp cùng nhau trong việc đóng góp.

Bần Đạo xin được tùy hỷ công đức (Anumodanà) và xin có lời chúc phúc như tiếp theo đây: Te attha laddhà sukhità Viruḷhà Buddhasàsane Arogà sukhità hontu Saha sabbehi ñàtibhi. 3 Cầu xin tất cả Quý Ngài cho được thành người am tường việc tiến hóa lợi ích, và cho có được Thân Tâm an lạc; cho được thành người tăng tiến phát triển sung thiện và cho có được chứng đạt Đạo Quả trong Phật Giáo; và cho được thành người không có ốm đau bệnh tật, sầu khổ ưu não bất luận trong trường hợp nào, và chỉ có Tâm an lạc cùng luôn tất cả thân bằng quyến thuộc của Quý Ngài ở cả bên Nội và bên Ngoại đồng cùng nhau hết cả thảy. Saddhamma Jotika Dhammàcariya Ngài Giáo Thọ Chánh Pháp Quang Minh Ngày 15 Tháng Bảy Phật Lịch 2503 --------------------------00000----------------------- PHI LỘ (của Ngài Đại Trưởng Lão Tịnh Sự) Chúng tôi phiên dịch Tạng Vô Tỷ Pháp (Tạng Diệu Pháp) cũng không ngoài ra Tâm, Tâm Sở, Sắc Pháp, Níp Bàn. Chỉ về Hữu Vi cho chúng ta thấy rõ Vô Thường, Khổ Não và Vô Ngã để làm bàn đạp, qua rồi mới hoàn toàn rốt ráo rất thật tự nhiên, nêu danh là Níp Bàn (Nibbàna) không Luân Hồi Sanh Tử chi cả.

Nhưng chúng ta muốn hiểu thấu, Đắc Chứng chắc phải nhờ Học Hành đầy đủ, hầu tránh khỏi sai lầm và mê tín. Vì thế nên chúng tôi cố gắng đem lối kinh nghiệm uyển chuyển rất nhiều lần đa cách. Nay in ra để giúp Quý Bạn đồng tìm. Mong lợi ích kiến thức cùng nhau tiến hóa.

Santakicco Mahà Thera (Ngài Đại Trưởng Lão Tịnh Sự) ------------------------00000--------------------- KINH VÔ NGÃ TƯỚNG (ANATTALAKKHAṆA SUTTA) Tôi đã đặng nghe như thế nầy: Một thưở kia Phật Ngài đang ngự 4 Rừng Đạo Sĩ gần thành Ba Na Si Lúc Thế Tôn, Ngài thuyết Pháp Để độ bọn năm Thầy Nầy Tỳ Khưu tất cả, Sắc thân Vô Ngã. Nầy các Thầy Tỳ Khưu, Nếu Sắc thân mà Hữu Ngã, Thời chẳng có sự Khổ Đau, Lại phải tùy theo ý muốn, Mới cho là Sắc Uẩn của Ta. Bảo như thế nầy đừng như thế nọ. Bởi vậy nầy các Thầy Tỳ Khưu, Sắc thân Vô Ngã, mới có sự Khổ Đau.

Lại cũng không theo ý muốn, Chớ cho là Sắc Uẩn của Ta. Bảo như thế nầy đừng như thế nọ. Thọ Uẩn Vô Ngã, Nầy các Thầy Tỳ Khưu, Nếu Thọ Uẩn mà Hữu Ngã, Thời chẳng có sự Khổ Đau. Lại phải tùy theo ý muốn, Mới cho là Thọ Uẩn của Ta.

Bảo như thế nầy đừng như thế nọ. Bởi vậy nầy các Thầy Tỳ Khưu, Thọ Uẩn Vô Ngã, mới có sự Khổ Đau. Lại cũng không theo ý muốn, Chớ cho là Thọ Uẩn của Ta. Bảo như thế nầy đừng như thế nọ.

Tưởng Uẩn Vô Ngã, Nầy các Thầy Tỳ Khưu, Nếu Tưởng Uẩn mà Hữu Ngã, Thời chẳng có sự Khổ Đau. Lại phải tùy theo ý muốn, Mới cho là Tưởng Uẩn của Ta. Bảo như thế nầy đừng như thế nọ. Bởi vậy nầy các Thầy Tỳ Khưu, Tưởng Uẩn Vô Ngã, mới có sự Khổ Đau.

Lại cũng không theo ý muốn. Chớ cho là Tưởng Uẩn của Ta. Bảo như thế nầy đừng như thế nọ. 5 Hành Uẩn Vô Ngã, Nầy các Thầy Tỳ Khưu, Nếu Hành Uẩn mà Hữu Ngã, Thời chẳng có sự Khổ Đau.

Lại phải tùy theo ý muốn. Mới cho Hành Uẩn của Ta, Bảo như thế nầy đừng như thế nọ. Bởi vậy nầy các Thầy Tỳ Khưu, Hành Uẩn Vô Ngã, mới có sự Khổ Đau. Lại cũng không theo ý muốn.

Chớ cho là Hành Uẩn của Ta. Bảo như thế nầy đừng như thế nọ. Thức Uẩn Vô Ngã, Nầy các Thầy Tỳ Khưu, Nếu Thức Uẩn mà Hữu Ngã, Thời chẳng có sự Khổ Đau. Lại phải tùy theo ý muốn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ