Giáo Trình Cơ Sở Khoa Học Quản Lý - Chương 1: Những Vấn Đề Chung Về Khoa Học Quản Lý

Giáo trình Cơ sở khoa học quản lý - chương 1: những vấn đề chung biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, phù hợp sinh viên ngành

Trường đại học

Trường Đại Học Xây Dựng

Chuyên ngành

Kinh Tế Xây Dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2020

115
10
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHOA HỌC QUẢN LÝ

1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại tổ chức

1.1.1. Khái niệm về một tổ chức

1.1.2. Các đặc điểm của một tổ chức

1.1.3. Phân loại tổ chức

1.1.4. Các hoạt động cơ bản của tổ chức

1.2. Khái niệm và vai trò của quản lý

1.2.1. Khái niệm về quản lý

1.2.2. Vai trò của quản lý

1.2.3. Các yếu tố cơ bản của quản lý một tổ chức

1.2.4. Các đặc điểm của quản lý

2. CHƯƠNG 2: CHỨC NĂNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ KẾ HOẠCH HÓA

3. CHƯƠNG 3: CHỨC NĂNG TỔ CHỨC

4. CHƯƠNG 4: CHỨC NĂNG LÃNH ĐẠO, KÍCH THÍCH VÀ ĐỘNG VIÊN

5. CHƯƠNG 5: CHỨC NĂNG KIỂM SOÁT

6. CHƯƠNG 6: THÔNG TIN VÀ RA QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ

7. CHƯƠNG 7: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA CỦA TỔ CHỨC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giáo Trình Cơ Sở Khoa Học Quản Lý

Giáo trình Cơ sở khoa học quản lý cung cấp những kiến thức nền tảng về quản lý tổ chức. Chương 1 tập trung vào các khái niệm cơ bản, đặc điểm và phân loại tổ chức. Nội dung này không chỉ giúp người học hiểu rõ về quản lý mà còn tạo nền tảng cho các môn học chuyên sâu sau này.

1.1. Khái Niệm Về Tổ Chức Trong Quản Lý

Tổ chức được định nghĩa là tập hợp của nhiều người làm việc vì mục đích chung. Các tổ chức có thể là doanh nghiệp, cơ quan nhà nước hoặc các đoàn thể xã hội.

1.2. Đặc Điểm Của Tổ Chức Trong Quản Lý

Mỗi tổ chức đều có tính mục đích rõ ràng, là hệ thống xã hội mở và cần được quản lý để đạt được mục tiêu đã đề ra.

II. Những Vấn Đề Thách Thức Trong Quản Lý Tổ Chức

Quản lý tổ chức đối mặt với nhiều thách thức như sự biến động của môi trường và yêu cầu từ khách hàng. Những vấn đề này đòi hỏi nhà quản lý phải có khả năng thích ứng và đổi mới.

2.1. Thách Thức Từ Môi Trường Bên Ngoài

Môi trường bên ngoài ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức. Các yếu tố như kinh tế, chính trị và xã hội cần được phân tích để đưa ra quyết định quản lý hiệu quả.

2.2. Yêu Cầu Từ Khách Hàng

Khách hàng ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Điều này buộc tổ chức phải cải tiến quy trình và nâng cao chất lượng phục vụ.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Quản Lý Tổ Chức

Các phương pháp nghiên cứu trong quản lý giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức. Việc áp dụng các phương pháp này là cần thiết để đưa ra quyết định chính xác.

3.1. Phương Pháp Phân Tích SWOT

Phân tích SWOT giúp tổ chức nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức. Đây là công cụ hữu ích trong việc lập kế hoạch chiến lược.

3.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Thị Trường

Nghiên cứu thị trường cung cấp thông tin về nhu cầu và hành vi của khách hàng. Điều này giúp tổ chức điều chỉnh sản phẩm và dịch vụ cho phù hợp.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Khoa Học Quản Lý

Khoa học quản lý không chỉ là lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong các tổ chức. Việc áp dụng các nguyên tắc quản lý giúp nâng cao hiệu quả hoạt động.

4.1. Ứng Dụng Trong Doanh Nghiệp

Doanh nghiệp áp dụng khoa học quản lý để tối ưu hóa quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng dịch vụ. Điều này giúp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

4.2. Ứng Dụng Trong Cơ Quan Nhà Nước

Các cơ quan nhà nước cũng cần áp dụng khoa học quản lý để cải thiện hiệu quả công việc và phục vụ tốt hơn cho người dân.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Khoa Học Quản Lý

Khoa học quản lý sẽ tiếp tục phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức. Sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh đòi hỏi các nhà quản lý phải luôn cập nhật kiến thức và kỹ năng.

5.1. Xu Hướng Phát Triển Khoa Học Quản Lý

Khoa học quản lý sẽ ngày càng chú trọng đến công nghệ và dữ liệu lớn trong việc ra quyết định. Điều này giúp tổ chức hoạt động hiệu quả hơn.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Đổi Mới Trong Quản Lý

Đổi mới là yếu tố sống còn giúp tổ chức tồn tại và phát triển. Các nhà quản lý cần khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong tổ chức.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHOA HỌC QUẢN LÝ 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại tổ chức 1.1 Khái niệm về một tổ chức Xã hội loài người là một xã hội của các tổ chức. Phần lớn chúng ta đều đang là thành viên của một hoặc một số tổ chức nào đó. Các tổ chức tuy rất khác nhau về phương thức hoạt động, nhưng chúng đều mang những đặc trưng cơ bản của một loại hình hệ thống xã hội.

Hệ thống xã hội là tập hợp những người hay nhóm người có quan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng, tác động tương hỗ lên nhau một cách có quy luật. Tổ chức thường được hiểu như sau: Tổ chức là tập hợp của nhiều người (2 người trở lên) cùng làm việc vì mục đích chung trong hình thái cơ cấu ổn định. Một tổ chức có thể là một cơ quan quản lý nhà nước, một doanh nghiệp, một trường học, một chi đoàn, một câu lạc bộ, .2 Các đặc điểm của một tổ chức Một tổ chức là một đoàn thể hay một cơ quan quản lý nhà nước hay một doanh nghiệp đều mang các đặc điểm chung sau: Mọi tổ chức đều mang tính mục đích chung rất rõ ràng: Tổ chức được các chủ thể tạo ra như một công cụ để thực hiện những mục đích nhất định, là yếu tố cơ bản nhất của bất kỳ tổ chức nào. Điều đó được phản ánh trong chính từ “tổ chức”.

Gốc của từ này xuất phát từ tiếng Hy Lạp-Organon, có nghĩa là công cụ. Mục đích của các tổ chức rất khác nhau, nhưng tổ chức không có mục đích thì tổ chức đó sẽ không tồn tại và phát triển. Mọi tổ chức đều là hệ thống xã hội gồm nhiều người làm việc vì mục đích chung trong cơ cấu ổn định: Khi vào một tổ chức, chúng ta đã cam kết hành động cùng mọi người vì mục đích chung. Các thành viên phải được tuyển chọn, được xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và lợi ích thành viên phù hợp với mục đích chung.

Mọi tổ chức đều là hệ thống mở: Tổ chức tương tác với môi trường trong quá trình liên tục thu hút các nguồn lực đầu vào để chuyển đổi thành đầu ra để cung cấp cho khách hàng.1 thể hiện cả người cung cấp nguồn lực và khách hàng đều thuộc môi trường bên ngoài tổ chức. Phản hồi từ môi trường bên ngoài phản ánh tổ chức hoạt động tốt đến mức nào. “Không có khách hàng trung thành, tổ chức không 4 thể tồn tại”. Trong điều kiện nguồn lực hạn chế để tồn tại và phát triển, một tổ chức phải phục vụ tốt khách hàng và sử dụng tốt các nguồn lực.

Môi trường cung cấp Tổ chức Môi trường tiêu dùng Đầu vào: nhân Hộp đen:Các Đầu ra: Các lực, tài lực, vật hoạt động, các sản phẩm, dịch lực, công nghệ, công cụ và vụ, thông tin,. phương pháplàm việc .1: Tổ chức là một hệ thống mở Mọi tổ chức đều được quản lý: Hình ảnh của các nhà quản lý luôn gắn liền với những tổ chức nhất định. Vai trò đó được thể hiện từ khi xác định mục đích để hình thành đến khi vận hành một tổ chức nhằm thực hiện mục đích. Một tổ chức với bản chất của nó, không thể tự hoạt động mà đều phải được quản lý nhằm đạt được mục đích đã xác định.3 Phân loại tổ chức Các tổ chức đang tồn tại vô cùng đa dạng.

Chúng có thể khác nhau khi trả lời các câu hỏi: ai nắm quyền sở hữu tổ chức? Tổ chức được tạo nên vì mục đích gì? .Vì vậy, cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau khi phân loại và sau đây là một số cách phân loại cơ bản. Phân loại theo tính chất sở hữu Tổ chức công là tổ chức thuộc quyền sở hữu của nhà nước hoặc không có chủ sở hữu. Nó tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ công-là những sản phẩm mà người sử dụng không phải cạnh tranh và loại trừ nhau để có quyền sử dụng. Ví dụ: Tổ chức công thuộc sở hữu nhà nước như các cơ quan công quyền.

Tổ chức công không có chủ sở hữu như các đoàn thể xã hội, các cơ sở tôn giáo. Tổ chức tư là tổ chức thuộc ở hữu tư nhân và được kiểm soát bởi tư nhân; hoạt động vì mục tiêu cơ bản là tìm kiếm lợi nhuận. Tổ chức công tư hợp danh: ví dụ doanh nghiệp thực hiện hợp đồng hợp tác công tư PPP b. Phân loại theo tổ chức vì lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận 5 Tổ chức vì lợi nhuận là tổ chức tồn tại chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận tối đa.

Yếu tố được quan tâm nhất là bao nhiêu lợi nhuận được tạo ra từ khoản đầu tư. Tổ chức đó là các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể, v. Tổ chức phi lợi nhuận là tổ chức ra đời và tồn tại để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cộng đồng. Đó là các cơ quan nhà nước, các viện bảo tàng, các tổ chức chính trị, các tôn giáo, các doanh nghiệp phi lợi nhuận, các tổ chức từ thiện,v.

Phân loại theo hình thức chức chính thức và tổ chức phi chính thức Tổ chức chính thức là tổ chức mà trong đó mọi người đều được xác định rõ ràng về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm và thường do cấp trên quyết định hoặc do bầu cử hoặc được pháp luật thừa nhận. Tổ chức phi chính thức là tổ chức của những người được hình thành thông qua các mối quan hệ cá nhân, tồn tại trong “tổ chức” chính thức hoặc với bên ngoài “tổ chức” do cùng sở thích, nguyện vọng, quan điểm, tư tưởng,.Như hội Guitar, hội Cầu lông,.Hoặc các phòng “cộng tác viên” của các doanh nghiệp.4 Các hoạt động cơ bản của tổ chức Hoạt động của các tổ chức là muôn hình muôn vẻ, phụ thuộc vào mục đích tồn tại, lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội, quy mô, phương thức hoạt động được chủ thể lựa chọn và các yếu tố ngoại lai khác. Tuy nhiên, mọi tổ chức đều phải thực hiện các hoạt động theo một tiến trình liên hoàn trong mối liên hệ chặt chẽ với môi trường. Ví dụ tổ chức là một doanh nghiệp, tiến trình đó là: - Nghiên cứu và dự báo môi trường để trả lời các câu hỏi: Môi trường đòi hỏi gì ở tổ chức? Môi trường tạo ra cơ hội và thách thức nào?.

- Thiết kế các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng khách hàng. - Tìm kiếm và huy động các nguồn lực đáp ứng hoạt động của tổ chức. - Tiến hành tạo ra các sản phẩm và dịch vụ. - Làm cho khách hàng biết và hiểu sản phẩm và dịch vụ của tổ chức.

- Thực hiện các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng khi sử dụng sản phẩm và dịch vụ,.2 Khái niệm và vai trò của quản lý 1.1 Khái niệm về quản lý Quản lý là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều dạng, có thể gộp thành 3 dạng chính: 6 - Quản lý các quá trình của thế giới vô sinh (nhà xưởng, ruộng đất, tài nguyên, hầm mỏ, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, sản phẩm.); - Quản lý các quá trình diễn ra trong cơ thể sống (cây trồng, vật nuôi, con người); - Quản lý các quá trình diễn ra trong xã hội loài người (quản lý xã hội: đảng, nhà nước, đoàn thể quần chúng, kinh tế, các tổ chức. Trong phạm vi môn học, chúng ta chỉ nghiên cứu ở dạng thứ ba quản lý xã hội. Quản lý xã hội là dạng quản lý phức tạp nhất, bao gồm nhiều lĩnh vực như: quản lý Nhà nước, quản lý hành chính công, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý ngành, quản lý doanh nghiệp,. Quản lý nói chung theo nghĩa tiếng Anh là Administration vừa có nghĩa quản lý (hành chính, chính quyền), vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh).

Administration trong văn bằng thạc sỹ quản trị kinh doanh (MBA Master of Business Administration). Ngoài ra trong tiếng Anh còn có một thuật ngữ khác là Management vừa có nghĩa quản lý, vừa có nghĩa quản trị. Management có nguồn gốc từ tiếng La tinh: Manus có nghĩa là bàn tay. Quản lý thể hiện việc con người tác động vào sự việc theo mục đích của mình thay vì để sự việc tự xảy ra một cách tự nhiên.

Trong thực tế, thuật ngữ "quản lý" và "quản trị" vẫn được dùng trong những hoàn cảnh khác nhau để nói lên những nội dung khác nhau, nhưng về cơ bản hai từ này đều cơ bản chất giống nhau. Khi dùng theo thói quen, chúng ta coi thuật ngữ "quản lý" gắn liền với quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý ở khu vực công cộng, tức là quản lý ở tầm vĩ mô, còn thuật ngữ "quản trị" được dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp (kinh tế). Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý" (tiếng Việt gốc Hán 管理) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình "quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình “ lý" là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”. Có rất nhiều cách diễn đạt khái niệm về quản lý: Khái niệm 1: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội để đạt được mục tiêu đề ra, trong điều kiện biến động của môi trường [14].2) 7 Môi trường Chủ thể quản lý Mục tiêu của tổ Đối tượng chức quản lý 1 tổ chức 1 TC Hình 1.2: Mô hình khái niệm về quản lý Ghi chú: trong sơ đồ đường nét liền mảnh có mũi tên là đường chỉ đạo; đường nét đứt mảnh có mũi tên là đường thông tin phản hồi.

Quản lý là một thuộc tính vốn có của mọi tổ chức. Khái niệm 2: Quản lý là tìm cách làm cho thành quả chung nhiều hơn thành quả các cá thể riêng rẽ cộng lại (tìm cách tăng hiệu năng lao động chung). Theo giáo sư Kenzo BaBa (Nhật Bản): Quản lý có nghĩa 1+1 > 2 (1.1) Khoa học quản lý mang tính tự nhiên được phát triển ở khắp nơi, nhưng gần đây được phát triển mạnh ở phương Tây; nhất là Mỹ và Anh (Hầu hết (trên 90%) giải thưởng Noben về kinh tế thuộc 2 nước Mỹ và Anh). Mỗi nước phải phát triển Khoa học quản lý (KHQL) của riêng mình, nhưng có thể rút ra công thức tổng quát từ sự thành công của nước Nhật thời kỳ phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh thế giới lần II như sau: Thành công = Học tập KHQL phương Tây + Giá trị truyền thống (1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ