MỞ ĐẦU MĐ22-01 Giới thiệu: Tình hình chăn nuôi heo trên thế giới, ở Việt Nam, ở khu vực đồng bằng sông Cửu long và trong tỉnh Đồng Tháp. Mục tiêu: - Kiến thức: có kiến thức tình hình chăn nuôi heo trên thế giới, ở Việt Nam, ở khu vực đồng bằng sông Cửu long và trong tỉnh Đồng Tháp - Kỹ năng: nghe nhìn và tìm hiểu về kỹ thuật chăn nuôi Heo. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm:sinh viên tự tìm hiểu những kiến thức về chăn nuôi heo để học tập. Tình hình chăn nuôi heo trên thế giới Chăn nuôi heo là một ngành sản xuất quan trọng trong ngành chăn nuôi của nhiều nước trên thế giới.
Các nước ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ là những nước nuôi rất nhiều heo ( bảng 1.1) Tuy nhiên, cũng có nhiều vùng hầu như không phát triển ngành này do ảnh huởng của tôn giáo nhất là các nước theo đạo Hồi và một số nước không có tập quán dùng đạm động vật là thịt heo, cũng như một số vùng điều kiện sinh thái không thích hợp như hoang đảo lạnh giá hay sa mạc.1: Các nước có số lượng heo nhiều nhất thế giới (Đơn vị tính: con) STT Tên nước Đơn vị Số lượng 1 China Con 451.581 2 United States of America Con 67.000 4 Viet Nam Con 27.600 9 7 Russian Federation Con 16.647 (nguồn FAO, 2009) Mặt khác do điều kiện kinh tế xã hội, trình độ khoa học kỹ thuật, dân trí từng vùng có khác nhau nên sự phân bố phát triển đàn heo, kỹ thuật nuôi dưỡng cũng hoàn toàn khác biệt. Những nước phát triển, chăn nuôi heo đã trở thành một ngành sản xuất theo hướng công nghiệp và đã đạt đến trình độ cơ giới hoá, tự động hoá cao trong sản xuất con giống, thức ăn, kỹ thuật chế biến sản phẩm cũng như định hướng rõ ràng thị trường tiêuthụ. Về con giống, hầu hết đàn heo nuôi của các nước này là giống heo cao sản nổitiếng như Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain, Hampshire… cùng với trình độ kỹthuật tiên tiến nên năng suất thịt heo cao gấp 1,5 đến 2 lần so với các nước đang phát triển. Ngược lại, ở các nước đang phát triển, trình độ chăn nuôi vẫn còn nhiều hạn chế.
Phần lớn thức ăn chăn nuôi là sản phẩm phụ nông nghiệp và người dân thường sử dụng thời gian nhàn rỗi để chăn nuôi, cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế. Đặc biệt các giống heo địa phương tuy có một số đặc điểm tốt như dễ nuôi, chịu đựng được điều kiện kham khổ, sức đề kháng bệnh tật tốt, sức sinh sản cao, nhưng năng suất thịt còn rất thấp và quầy thịt nhiều mỡ (đàn heo của các nước ở châu Á, châu Phi). Do vậy, mặc dù các nước này có số lượng heo nuôi nhiều, nhưng lượng thịt được tính bình quân bởi mộtđầu heo còn thấp. Theo tổ chức lương nông thế giới FAO (2009), các cường quốc về sản lượng thịt heonăm 2009: thứ nhất là Trung Quốc 49,8 triệu tấn, thứ hai Hoa Kỳ 10,4 triệu tấn, thứ ba Đức 5,2 triệu tấn, thứ tư Brazin 4,29 triệu tấn, thứ năm Tây Ban Nha 3,29 triệu tấn, thứ 6 Việt Nam 2,55 triệu tấn.
Năm nước có nhiều thịt lợn nhất ở Châu Á: thứ nhất Trung Quốc 49,8 triệu tấn, thứ hai Việt Nam 2,55 triệu tấn, thứ ba Philippine 1,7 triệu tấn, thứ tư Nhật bản 1,3 triệu tấn, thứ năm Thái Lan 755,7 nghìn tấn. Tình hình chăn nuôi heo ở Việt Nam Ngành chăn nuôi heo nước ta đã có từ rất lâu đời, đầu tiên là chăn nuôi truyền thống đã không đáp ứng nhu cầu thị trường từ đó đã chuyển dần sang phương thức chăn nuôivtrang trại và công nghiệp, trong những năm gần đây xu 10 thế chăn nuôi công nghiệp vàvtrang trại đang ngày càng phát triển và có tiềm năng rất lớn điều này đã phù hợp với mục tiêu của chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008) với: đàn heo từ 26,8 triệu con năm 2006 lên 29,9 triệu con năm 2010; 32,9 triệu con năm 2015 và đạt 34,7 triệu con năm 2020. Trong đó đàn heo ngoại nuôi trang trại và công nghiệp từ 14,1 % năm 2006 lên 37 % năm 2020, tăng 9,2%/năm. Sản lượng thịt hơi từ 2,5 triệu tấn năm 2006 lên 3,1 triệu tấn năm 2010; 3,9triệu tấn năm 2015 và đạt 4,8 triệu tấn năm 2020.
Tuy nhiên trong thời gian gần đây và những năm tiếp theo ngành chăn nuôi ở Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là về tình hình dịch bệnh, giá nguyên liệu thức ăn tăng cao trong khi giá thịt heo hơi ở mức thấp. Chính vì lẽ đó những nhà chăn nuôi hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn cho những kế hoạch phát triển trang trại chănnuôi. Để giải quyết vấn đề trên đòi hỏi người chăn nuôi phải có được con giống tốt,năng suất cao, tốc độ tăng trưởng nhanh, đồng thời người chăn nuôi phải kiểm soát được dịch bệnh và môi trường sạch không ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Bên cạnh đó thịt heo phải có chất lượng tốt, thơm ngon và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Tình hình chăn nuôi heo ở khu vực đồng bằng sông Cửu long và ở Đồng Tháp Hiện nay, ngành chăn nuôi heo ở tỉnh Đồng Tháp nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung vẫn còn sản xuất trong tình trạng tự phát, phân tán, qui mô nhỏ lẻ. Những tồn tại chính đó là việc sử lý chất thải trong chăn nuôi chưa được quan tâm đúng mức; chuồng trại chăn nuôi vẫn còn lạc hậu; quản lý giống heo còn nhiều bất cập; sản xuất chưa gắn chặt với chế biến, giết mổ; tình hình dịch bệnh vẫn còn phức tạp. Vị trí và tầm quan trọng của chăn nuôi heo ở Đồng Tháp: Chăn nuôi heo là ngành chăn nuôi quan trọng của tỉnh Đồng Tháp, một tỉnh thuần nông, có nhiều nông phụ phẩm nông nghiệp và đặc biệt là phụ phẩm của làng nghề làm bột. Số lượng heo được nuôi nhiều ở các huyện Sa Đéc, Châu Thành, Lai vung, nơi có nhiều làng nghề làm bột.
Tuy nhiên, qui mô chăn nuôi còn nhỏ theo mô hình nông hộ (10 đến 200 con / hộ). Câu hỏi ôn tập: 1. Nêu những thuận lợi và khó khăn của ngành chăn nuôi Heo của nước ta hiện nay? 2. Theo anh ( chị) giải pháp nào để giúp ngành chăn nuôi heo phát triển bền vững? 11 BÀI 2 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA HEO MĐ22-02 Giới thiệu: Những đặc điểm sinh học của loài heo.
Mục tiêu: - Kiến thức: sinh viên hiểu biết được lịch sử thuần hóa giống heo, những đặc điểm sinh học của loài heo. - Về kỹ năng: sinh viên nắm được những đặc điểm sinh học của loài heo để chăn nuôi cho phù hợp. - Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Sau khi học xong bài này sinh viên tự tìm hiểu những kiến thức về chăn nuôi heo để học tập. Một số đặc điểm sinh lý của heo con Heo con từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa (tách mẹ) có nhiều đặc điểm sinh lý đặc trưng và đòi hỏi phải có sự chăm sóc nuôi dưỡng tốt.
Nếu khi chăn nuôi, người chăn nuôi không nắm vững các đặc điểm sinh lý của heo con sẽ không nuôi dưỡng và chăm sóc hợp lý chúng, dẫn đến sinh trưởng chậm, heo không khỏe và chất lượng con giống kém. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển Heo con khi mới sinh ra thì sinh trưởng và phát triển nhanh, trọng lượng heo sơ sinh càng nặng thì tốc độ tăng trưởng của nó càng nhanh. Sau khi đẻ 8 ngày trọng lượng tăng gấp đôi, 10 ngày tăng gấp 3 – 4 lần, 55 – 60 ngày tăng gấp 15 – 20 lần. Giai đoạnsơ sinh, dạ dày của heo con chỉ chứa được 4 – 5 g sữa, 20 ngày tăng gấp 4 – 6 lần, khi cai sữa tăng gấp 20 – 25 lần so với ban đầu.
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, heo con gặp ba thời kỳ khủng hoảng, lúcmới sinh ra, lúc 3 tuần tuổi và lúc cai sữa: - Lúc mới sinh ra: heo con từ chỗ ở trong bụng mẹ được bảo vệ trong tử cung và được cung cấp dinh dưỡng qua nhau thai. Lúc ra khỏi cơ thể mẹ chúng trực tiếp chịu sự tácđộng của môi trường và những điều kiện sống khác và tự tìm lấy vú mẹ để lấy dinh dưỡng nuôi sống cơ thể. - Lúc 3 tuần tuổi: nhu cầu sữa cho heo con tăng, trái lại lượng sữa heo mẹ lại bắt đầugiảm, một số chất dinh dưỡng trong heo con giảm dần đặc biệt là sắt, 12 sắt là thành phần cấu tạo hemoglobin khi thiếu sắt sẽ dẫn đến thiếu máu. Ở heo con mỗi ngày cần khoảng 7 – 11 mg mà lượng sắt cung cấp từ sữa mẹ rất ít, khoảng 2mg Fe/con/ngàynên cần phải cung cấp thêm khoảng 5 – 7mg Fe/con/ngày.
- Lúc cai sữa: do bị tách khỏi mẹ, từ dinh dưỡng phụ thuộc sữa mẹ chuyển sang dinh dưỡng phụ thuộc hoàn toàn vào thức ăn. Nếu sự chuyển biến này đột ngột sẽ tác độngxấu đến tăng trưởng heo con. Khả năng điều hòa thân nhiệt Đối với heo sơ sinh do lớp võ đại não chưa hoàn chỉnh nên khả năng điều hòa thânnhiệt của chúng rất kém. Khi có sự thay đổi đột ngột của môi trường, heo con dễ bị tác động đưa đến sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh đặc biệt là rối loạn tiêu hóa, tiêuchảy….
Ngoài ra, lớp mỡ dưới da heo con rất mỏng, chỉ chiếm 1% trọng lượng cơ thể nên khả năng chống lạnh, giữ nhiệt cho cơ thể còn hạn chế, heo dễ mất nhiệt, dễ bị bệnh. Heo con hệ thần kinh điều khiển sự cân bằng nhiệt chưa phát triển đầy đủ, cơ thể heocon mới sinh chủ yếu là nước (82%), mô mỡ dưới da chưa phát triển và glucose dự trữ còn thấp, da mỏng, lông thưa, nên chống lạnh kém. Sau khi sanh 30 phút thân nhiệt heo con giảm 1 – 20C, do vậy heo con dễ bị lạnh, hoạt động chức năng của các bộ phận trong cơ thể bị rối loạn, đòi hỏi phải sưởi ấm cho cơ thể heo con trong 7 ngày đầu để đảm bảo cho sự trao đổi năng lượng và trao đổi chất. Chuồng nuôi heo nên độn rơm, dăm bào, đèn sưởi ấm để có nhiệt độ 32 – 340C trong tuần đầu, 29 – 300C trong tuầnlễ sau.
Từ sau 10 ngày tuổi heo con mới điều chỉnh cân bằng được thân nhiệt. Khả năng điều tiết thân nhiệt của heo con rất kém, do đó nó rất nhạy cảm với sự thayđổi khí hậu bên ngoài, nhất là nhiệt độ lạnh dễ làm cho heo con bị bệnh. Ở heo con từ 15 – 20 ngày tuổi thân nhiệt mới dần ổn định.