mở đầu: giảng viên nhắc lại phần lý thuyết về kỹ thuật xây dựng chuồng trại, các yêu cầu kỹ thuật cần nắm. Hướng dẫn học viên cách thực hiện: quan sát ghi nhận các mô hình chuồng nuôi bò tại địa phương. Đánh giá, thảo luận từng mô hình nuôi. + Học viên lắng nghe, theo dõi giảng viên hướng dẫn + Hướng dẫn thường xuyên: phân lớp thành từng nhóm nhỏ 3-5 học viên, mỗi nhóm quan sát ghi nhận chuồng nuôi thực tế.
+ Giảng viên theo dõi và nhắc nhở học viên thực hiện nghiêm túc 4. Tổng kết, nhận xét đánh giá và viết báo cáo - Kết quả và sản phẩm cần đạt được: Ghi nhận được các kiểu chuồng nuôi tại địa phương (chụp hình, vẽ lại…) - Ghi chép đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết. - Thực hiện đúng các yêu cầu. - Tinh thần thái độ học tập nghiêm túc.
- Viết bài phúc trình nộp. CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 4 1. Phân tích những yêu cầu cơ bản xây dựng chuồng trại trâu bò. Trong một khu chuồng trại chăn nuoi trâu bò cần có những bộ phận chính nào? 3.
Phân tích những yêu cầu kỹ thuật cơ bản của chuồng nuôi (thông thoáng, ánh sáng, mật độ nuôi). Nền chuồng trâu bò cần đáp ứng được những yêu cầu nào? 56 CHƯƠNG 5 DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHO GIA SÚC NHAI LẠI MH20-05 Giới thiệu: Dinh dưỡng và thức ăn là một trong bốn yếu tố rất cần thiết trong chăn nuôi. Cung cấp đúng nhu cầu giá trị dinh dưỡng cho từng loại gia súc góp phần tăng hiệu quả chăn nuôi, tăng giá trị năng lượng và protein (đối với thức ăn và nhu cầu) của gia súc nhai lại, cũng như nguyên tắc phối hợp khẩu phần để đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của con vật. Mục tiêu: - Kiến thức: Mô tả được ý nghĩa, tầm quan trọng nhu cầu dinh dưỡng và các loại thức ăn và phương pháp giải quyết thức ăn cho trâu, bò.
- Kỹ năng: Thực hiện được việc trồng một số giống cỏ năng suất cao đúng kỹ thuật, hiệu quả và giải quyết thức ăn cho trâu, bò về mùa đông. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tự tin, có trách nhiệm với công việc, thái độ học tập đúng đắn; có ý thức tự học hỏi nâng cao trình. Nhu cầu dinh dưỡng của gia sú nhai lại 1. Nhu cầu về nước Nước của cơ thể ñộng vậ t chiếm tới 60- 75% khối lượng, theo với tuổi tỷ lệ này giảm dần từ 75- 80% khi mới sinh xuống còn 45- 60% khi trưởng thành.
Nước tuy không cung cấp năng lượng nhưng có vai trò quan trọng trong đời sống động vật. Động vật có thể sống khi mất toàn bộ mỡ và hơn một nửa lượng protein của cơ thể, nhưng nếu mất 1/5 tổng lượng nước trong cơ thể con vật sẽ chết. Nhu cầu nước của con vật phụ thuộc vào số lượng thức ăn ăn vào, nhiệt độ môi trường và sản phẩm sản xuất ra. + Liên quan giữa nhu cầu nước và lượng chất khô thu nhận.
Tổng lượng nước uống vào hay tổng lượng nước uống mà con vật thu nhận được (nước uống + nước trong thức ăn) có liên quan chặt chẽ tới lượng chất khô con vật ăn vào. Thành phần dinh dưỡng của khẩu phần cũng chi phối nhu cầu về nước. Khẩu phần giàu protein làm tăng nhu cầu nước so với khẩu phần giàu bột đường. Loại thức ăn giàu nước hay nghèo nước cũng chi phối nhu cầu nước.
Holden (1980) cho biết: Bò sữa tiết 10kg/ngày nếu ăn cây ngô ủ xanh chứa 30 – 35% chất khô thì tổng lượng nước thu nhận là 4,3kg, trong đó nước uống vào là 2,3kg; nhưng nếu ăn cỏ non chứa 15% chất khô thì tổng lượng nước thu nhận là 57 5,5kg, trong đó nước uống là 1kg. + Liên quan giữa nhu cầu nước với sức sản xuất Rõ ràng rằng sản xuất càng nhiều sản phẩm thì nhu cầu nước càng tăng vì nước chứa trong các sản phẩm như thịt, trứng, sữa khá cao. 1kg sữa có khoảng 0,87kg nước, 1kg tăng trọng có khoảng 0,4- 0,6kg nước. Như vậy, bò sữa cao sản cần nhiều nước hơn con vật thấp sản., bò đang tiết sữa cần nhiều nước hơn con vật cạn sữa.
Con vật chửa cuối kỳ cần nhiều nước hơn con vật chửa đ ầu kỳ, con vật mang thai cần nhiều nước hơn con vật không mang. Con vật non cần nhiều nước hơn con vật trưởng thành hoặc con vật sinh trưởng nhanh cần nhiều nước hơn con vật sinh trưởng chậm. + Liên quan giữa nhu cầu nước với nhiệt độ môi trường Theo số liệu của Winchester và Mois (1956) thì lượng nước thu nhận tính theo 1kg chất khô của bò ổn định khi nhiệt độ môi trường 5- 10ºC. Lượng nước thu nhận tăng khi nhiệt độ môi trường tăng, lúc đầu tăng chậm sau tăng nhanh kể từ 20- 250C trở lên.
So sánh với giá trị quan sát ở 100C, lượng nước thu nhận (từ thức ăn và nước uống) đã tăng 15% ở 180C, tăng 30% ở 200C, 50% ở 250C và gần 100% ở 300C. Ở loài nhai lại nếu nước uống quá lạnh làm cho nhiệt độ dịch dạ cỏ giảm đáng kể (tới 100C) và chỉ trở lại bình thường sau 2 giờ, điều này làm mất năng lượng và làm con vật giảm uống. Cách cung cấp nước tốt nhất cho con vật là cho chúng tiếp xúc tự do với nguồn nước và được uống thoả thích. Cũng không được cho con vật uống nước bị nhiễm các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng hoặc nhiễm hoá chất độc khác.
Nhu cầu nước uống dự kiến cho bò Nhóm bò Nhu cầu dự kiến (lít/bò/ngày) Bò cái tơ và bò đực đang sinh 15-22 trưởng đến 180 kg Bò cạn sữa mang thai 26-49 Bò tiết sữa: 22,7 kg sữa/ngày 91-102 45,4 kg sữa/ ngày 182-197 58 1. Nhu cầu năng lượng Gia súc lấy năng lượng từ thức ăn để đáp ứng nhu cầu năng lượng của cơ thể. Toàn bộ năng lượng hoá học có trong thức ăn (xác định bằng cách đốt mẫu thức ăn trong ôxy trong một dụng cụ gọi là bom calorimet) được gọi là năng lượng thô (GE) của thức ăn đó. Tuy nhiên không phải toàn bộ GE thu nhận được từ thức ăn đều được con vật sử dụng.
Một số bị mất đi qua phân, qua nước tiểu và qua khí mê-tan. Năng lượng thô trừ đi năng lượng ở trong phân được gọi là năng lượng tiêu hoá (DE). Sau khi trừ tiếp phần năng lượng mất qua nước tiểu và qua khí mê-tan, phần năng lượng còn lại được gọi là năng lượng trao đổi (ME). Hệ số q=ME/GE được gọi là hàm lượng năng lượng trao đổi và là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng của thức ăn.
Năng lượng trao đổi được cơ thể hấp thu và trải qua các quá trình trao đổi trung gian để cung cấp ATP cho các mục đích duy trì cơ thể và sản xuất khác nhau của con vật như co cơ, duy trì gradient nồng độ, phục hồi mô bào và chuyển hoá vào các sản phẩm sinh học như glycogen, protein, mỡ và lactoza của sữa. Bản thân việc sử dụng ME để duy trì cơ thể và sản xuất cũng đòi hỏi tiêu tốn năng lượng. Phần năng lượng tiêu tốn này cuối cùng bị mất dưới dạng nhiệt và được gọi là gia nhiệt (HI). Mức độ HI cao hay thấp phụ thuộc vào bản chất của thức ăn sử dụng và mục đích sử dụng ME.
Giá trị năng lượng của thức ăn còn lại sau khi trừ đi HI được gọi là năng lượng thuần (NE). Đó chính là năng lượng hữu ích được con vật sử dụng cho duy trì cơ thể, lao tác, nuôi thai hay tạo sản phẩm. Hệ số k = NE/ME được gọi là hiệu suất sử dụng năng lượng trao đổi. Toàn bộ NE sử dụng cho duy trì và HI cuối cùng được cơ thể thải ra ngoài dưới dạng nhiệt.
Hầu hết NE sử dụng cho lao tác cuối cùng cũng thải ra khỏi cơ thể dưới dạng nhiệt. Trong khi đó NE cho tăng trọng (kể cả bào thai) và sản xuất sữa chính là giá trị năng lượng của các sản phẩm này. Ví dụ 1: Một con bò (180kg) được nuôi ở mức duy trì, mỗi ngày ăn một lượng thức ăn chứa 45MJ, thải ra 15 MJ theo phân, 3 MJ theo nước tiểu, 3 MJ theo khí mêtan (ợ hơi) và 24 MJ dưới dạng nhiệt (17,3MJ NE duy trì + 6,7MJ HI duy trì). Tính lượng thu nhận theo DE, ME và NE.
Giải: Thu nhận (GE): 45 MJ/ngày 59 Thải ra: 24 + 15 + 3 + 3 = 45MJ/ngày Sản xuất: 0 MJ/ngày DE = 45 - 15 = 30MJ/ngày ME = 45 - 15 -3 -3 = 21MJ/ngày NE = 17,3MJ/ngày Ví dụ 2: Một con cừu (35kg) mỗi ngày ăn một lượng thức ăn (1,1 kg cỏ khô) chứa 18,4 MJ, thải ra 6,0 MJ theo phân, 0,9 MJ theo nước tiểu, 1,5 MJ theo khí mêtan (ợ hơi) và 7,5 MJ dưới dạng nhiệt (gồm 4,3MJ NE duy trì + 1,9MJ HI duy trì + 1,3 MJ HI sản xuất). Cừu tăng trọng 140g/ngày (2,5MJ). Tính lượng thu nhận theo DE, ME và NE. Giải: Thu nhận (GE): = 18,4 MJ/ngày Thải ra: 6,0 + 0,9 + 1,5 + 7,5 = 15,9MJ/ngày Sản xuất (NEp): = 2,5 MJ/ngày DE = 18,4 - 6,0 = 12,4MJ/ngày ME tổng số = 12,4 - (0,9 + 1,5) = 10,0MJ/ngày ME duy trì = 4,3 + 1,9 = 6,2 MJ/ngày ME tăng trọng = 10 - 6,2 = 3,8 MJ/ngày NE tổng số = 10 - (1,9 + 1,3) = 6,8MJ/ngày NE duy trì = 4,3MJ/ngày NE tăng trọng = 3,8 - 1,3 = 2,5 MJ/ngày Xác định giá trị năng lượng của thức ăn - Năng lượng thô (GE) Năng lượng thô có thể xác định bằng cách đốt mẫu thức ăn trong bom calorimet.
Tuy nhiên việc này không phải lúc nào cũng làm được, đặc biệt là ở nước ta. Đối với các loại thức ăn thường dùng cho gia súc nhai lại (nhiều gluxit, ít mỡ) có thể dùng một giá trị chung là 18,5 MJ hay 4,4 Mcal/kg VCK. - Năng lượng tiêu hoá (DE) Năng lượng tiêu hoá có thể tính theo công thức: DE = GE x dE Trong đó: dE là tỷ lệ tiêu hoá năng lượng (biểu kiến). Giá trị này thay 60 đổi nhiều tuỳ theo loại thức ăn và thường được xác định thông qua thí nghiệm tiêu hoá trên gia súc (in vivo) để xác định phần năng lượng (thô) mất đi trong phân.
Tuy nhiên trong thực tế không thể làm thí nghiệm in vivo để xác định được tỷ lệ tiêu hoá cho mọi loại thức ăn, cho nên người ta thường xây dựng các phương trình hồi quy giữa DE hay dE với các thành phần hoá học của thức ăn trên cơ sở một số thí nghiệm tiêu hoá có được hay xác định thông qua các thí nghiệm tiêu hoá trong phòng thí nghiệm (in vitro).