CHƯƠNG 1 1. Phân tích tình hình chăn nuôi gia cầm hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam. Nêu những thuận lợi và khó khăn của ngành CNGC hiện nay gặp phải. Các phương thức chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam? Ưu và nhược điểm? 4.
Định hướng phát triển ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta? 6 CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA GIA CẦM MH19-02 Giới thiệu: Nội dung Chương này sẽ trình bày những nét cơ bản về đặc điểm ngoại hình của gà nhà, những đặc điểm sinh lí và sức sản xuất gia cầm (sức sản xuất trứng, sản xuất thịt, sản xuất lông, gan…) Mục tiêu: - Kiến thức: Trình bày được những kiến thức cơ bản về đặc điểm sinh lý tiêu hóa, sinh sản của từng loài gia cầm, khả năng sản xuất gia cầm - Kỹ năng: Có kỹ năng thực hành cơ bản trong giải phẩu cơ thể sinh lý gia cầm. Đánh giá các chỉ tiêu về sức sản xuất của gia cầm - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Có ý thức về lợi ích của việc học tập, từ đó có thái độ học tập đúng đắn; ý thức tự học hỏi nâng cao trình độ. Đặc điểm sinh học gia cầm 1. Đặc trưng về ngoại hình bên ngoài - Bộ lông: Toàn thân gia cầm được bao phủ lông và yếm.
Lông có sự khác biệt giữa trống và mái. Ở con đực lông cườm và lông lưng dài, mềm mại hơn ở con cái. Sự sai khác này theo giới tính có thể nhận thấy ngay ở lứa tuổi còn non, nhất là các giống gà có tuổi thành thục sớm. Bộ lông của gia cầm có tác dụng ngăn cản những tác động bất lợi của môi trường đối với cơ thể, giúp cơ thể duy trì thân nhiệt và là cơ quan cảm giác nhờ tận cùng của các thần kinh ngoại biên.
Tuỳ thuộc vào loài, tuổi, giới tính mà bộ lông chiếm khoảng 4-9% khối lượng sống của gia cầm. Lông g cầm có cấu tạo khác nhau và chia thành các nhóm: + Lông ống: Là phần cơ bản của bộ lông. Số lượng lớn lông ống là nằm ở cánh (lông cánh) và đuôi (lông đuôi). Tuỳ theo hình dạng và độ lớn mà chia lông cánh thành 2 loại là: Lông cánh loại I (còn gọi là lông cánh sơ cấp hay lông cánh chính) và lông cánh loại II (còn gọi là lông cánh thứ cấp hay lông cánh phụ).
Giữa lông cánh chính và lông cánh phụ có một lông ngăn cách gọi là lông trục. Lông trục nằm đối diện với góc cánh và phân chia ranh giới giữa 2 lớp lông nói trên. Lông cánh nằm trên bề mặt và tạo nên lớp phủ ngoài giữ ấm cho cơ thể. Nó có ý nghĩa trong điều hoà thân nhiệt ở gia cầm.
Lông còn có ý nghĩa kinh tế đặc biệt, nhất là ở thuỷ cầm. Trọng lượng lông của vịt con, ngỗng con khoảng 150-200g lông. + Lông tơ: có nhiều ở gà tây, vịt, ngỗng; thường phân bố ở vùng ngực, nằm sát dưới da, dưới lớp lông cánh chính và đuôi. Trong 30 ngày tuổi đầu tiên đã xảy ra việc thay lông tơ bằng lông non đồng thời với việc phát triển các nang lông và 7 tạo nên các nếp nhăn của da.
Trong thời kỳ tiếp theo đến 150 ngày tuổi, lớp lông non được thay bằng lông trưởng thành có khả năng cách nhiệt rất tốt. Nhiệt độ bên trong cơ thể trong thời kỳ này là 40,6 - 41,0°C. Trong giai đoạn này, những biến đổi nhiệt ở môi trường bên ngoài ít ảnh hưởng hơn đến cơ thể gia cầm. + Lông măng: có hình sợi nhỏ như sợi tóc, phân bố ở đầu và cổ gia cầm + Lông hình búp son: phân bố chung quanh ống tiết của tuyến phao câu.
Các chất tiết này tập trung trên các lông này - Da: Gia cầm bao phủ toàn thân và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc trao đổi nhiệt giữa cơ thể với môi trường, nhất là ở gia cầm non. Da gồm 2 phần chính, lớp biểu bì với lớp tế bào hình trụ cùng với lớp mô liên kết mỏng và sợi collagen tạo thành lớp da ngoài bền chắc, nghèo mạch máu và hầu như không có tuyến ngoại tiết. - Màu sắc của bộ lông: Ở gia cầm màu sắc lông rất đa dạng. Màu lông phụ thuộc vào sự biểu hiện dưới dạng hạt hay phân bố đều của sắc tố mêlanin và dạng dịch của sắc tố lipocrôm.
Sắc tố mêlanin quy định từ màu cà phê vàng đến màu đen; còn lipôcrôm quy định màu vàng, đỏ, xanh hoặc xanh sẫm. Ở gia cầm màu sắc lông khác nhau có thể chia làm 2 nhóm lớn là lông màu và lông trắng (vấn đề màu sắc lông sẽ được thảo luận ở phần giống gia cầm). Màu vàng của da và chân gia cầm được quyết định bởi hàm lượng sắc tố carotenoid, xanthophyl nằm trong lớp mỡ dưới da, các sắc tố này còn có tác dụng làm đậm màu của thịt, chúng chỉ được cung cấp từ thức ăn có carotenoid như ngô vàng, bột thức ăn xanh, dầu gấc. Ngoài ra, giống, dòng gia cầm cũng có ảnh hưởng đến chỉ tiêu này.
- Tuyến phao câu (tuyến sáp): là tuyến duy nhất có ở biểu mô của gia cầm, nằm ở vùng đốt sống đuôi, tuyến này có 2 thuỳ hình ô van, chất tiết của chúng là chất nhờn, thành phần gồm nước, protein, lipit, axit nucleic, lexitin. Khi mới tiết ra, chất tiết ở dạng dầu nhờn, đặc quánh, sau một thời gian ngắn, chúng biến thành dạng sáp, có tác dụng làm cho bộ lông nhờn, sáng bóng và mềm mại, không thấm nước, nhất là ở thuỷ cầm. Sự hoạt động của tuyến phao câu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lượng mỡ trong thức ăn, nước uống. Sự hiểu biết về vai trò của tuyến phao câu cho đến nay vẫn chưa đầy đủ.
Nếu cắt bỏ tuyến phao câu ở gà trống, nó sẽ trở nên giảm tính hăng và mất các phản xạ sinh dục thứ cấp. - Mào (mòng, tích): của gia cầm là do gấp nếp của da tạo thành, tại đó tập trung rất nhiều dây thần kinh, mạch quản và các hốc máu, làm cho chúng luôn có màu đỏ tươi. Có thể căn cứ vào màu sắc của mào mà đánh giá tình trạng sức khoẻ và sức sản xuất của gia cầm. Khi gia cầm khoẻ mạnh, nhất là khi thành thục sinh dục, mào và tích có màu đỏ rực rỡ.
Khi gia cầm đẻ nhiều thì màu sắc của mào, 8 tích trở nên nhợt nhạt. Trong mọi trường hợp, khi gia cầm ốm thì mào, tích đều trở nên tím tái, đó là dấu hiệu đầu tiên để đánh giá sức khoẻ của gia cầm ốm. - Mỏ, móng, cựa, vẩy: Mỏ, móng, cựa, vẩy của gia cầm là các cấu trúc hoá sừng của biểu mô phát triển thành. Trong chăn nuôi gà, thường người ta phải cắt bớt mỏ, móng và cựa để phòng cho đàn gà sây xước, chấn thương khi chúng ánh nhau và đạp mái.1: Ngoại hình bên ngoài của gà trống 1.
Cấu tạo bên trong cơ thể Gồm bộ xương, hệ cơ, cơ quan tiêu hoá, bài tiết, sinh dục đực, sinh dục cái, cấu tạo quả trứng… - Hệ xương Các phần của hệ xương tương ứng như là ở động vật. Cánh gà tương ứng với cánh tay và bàn tay ở động vật bậc cao, cẳng chân và ngón chân tương ứng cẳng và ngón chân ở động vật, xương bàn chân của gà là sự nối tiếp và kéo dài ra từ xương chân của động vật. Hệ xương gia cầm có kết cấu vững chắc, xốp, nhẹ và khoẻ (cứng). Hệ xương bao gồm xương đầu, xương sống, xương ngực, xương sườn và xương chi.
Xương đầu chia thành hai loại là xương sọ và xương mặt. Xương sống chia ra xương sống cổ, xương ngực, xương hông (lưng, khum) và xương đuôi. Bộ xương chiếm khối lượng 7-8% khối lượng cơ thể. Xương sườn của gà là 7 đôi, của vịt, ngỗng là 9 đôi.
Mỗi xương sườn tận cùng gắn với một đốt sống ngực, đầu kia gắn với xương sống. Xương ngực ở gia cầm phát triển mạnh. Mỏm xương ngực ở một số giống gia cầm như gà Plymút, gà Corních, gà tây. phát triển rất mạnh.
Phần xương này là nơi bám của những cơ có giá trị quí (cơ trắng). 9 Các phần còn lại của bộ xương như cánh, đùi, chân. được tạo thành từ các xương riêng biệt và có sự kết hợp hài hoà với nhau. - Hệ cơ Ở gia cầm, hệ cơ mịn, sợi nhỏ và chắc.
Sự phát triển của hệ cơ phụ thuộc vào loài, giống, tuổi gia cầm. Ở các phần khác nhau của cơ thể gia cầm hệ cơ phát triển ở mức độ khác nhau (hình 2. Cơ ngực phát triển tốt theo sự vận động của cánh và bảo vệ các cơ quan, bộ phận bên trong của ngực và bụng. Cơ có ý nghĩa kinh tế quan trọng trong sản xuất thịt, nó chiếm tỷ lệ lớn trong phần thịt ăn được của gà.
Ở một số giống gà tây cơ ngực có thể phát triển đạt đến 1,5-1,9 kg. Màu sắc cơ của gia cầm là màu trắng hoặc sẫm (đỏ sẫm). Khi luộc thì cơ của gà và gà tây thì sáng hơn còn ở thuỷ cầm thì sẫm hơn. Tốc độ chảy của máu qua cơ quy định màu của nó.
Chân có thịt màu sẫm trong khi ngực có thịt màu trắng. Gà, gà tây đi lại nhiều thì thịt có màu sáng hơn, trong khi thuỷ cầm thịt có màu sẫm hơn. Độ lớn của tế bào cơ biến động từ 10-100, chiều dài từ 6-12 cm. Các tế bào cơ chứa 70-75% là nước, 17-19% protit, 1-7% các hợp chất không chứa nitơ, khoảng 1% chất khoáng và 3,9% mỡ.
Ngày nay đã xác định được mối tương quan thuận giữa khối lượng cơ đùi, cơ lườn (ngực) với khối lượng cơ thể gia cầm. - Hệ hô hấp Hệ hô hấp ở gia cầm ngoài phổi còn có các túi khí. Phổi của gia cầm nhỏ nên ngoài phổi ra, ở gia cầm còn có 7-9 túi khí tham gia vào quá trình hô hấp. Đó là 1 túi cổ, 2 túi dưới đòn, 2 túi ngực trước, 2 túi ngực sau và 2 túi bụng.
Ngoài chức năng hô hấp, túi khí còn có tác dụng như sau: làm mát tinh hoàn, tim và các nội quan khác; làm giảm khối lượng tương đối của gia cầm giúp gia cầm bay và bơi được tốt; tăng độ ẩm của không khí hít vào; giúp cho việc giữ cân bằng khi các cơ quan bên trong thay đổi vị trí tương đối của nó. - Hệ tiêu hoá Quá trình tiêu hoá ở gia cầm diễn ra rất nhanh. Ở gà, thức ăn chuyển qua đường tiêu hoá khoảng 8 giờ, ở vịt khoảng 16 - 26 giờ. Do vậy cấu tạo ống tiêu hoá ở gia cầm có khác với gia súc.
Lưỡi của gia cầm khá phát triển và có dạng như mỏ của nó.