CHƯƠNG 1 TẦM QUAN TRỌNG VÀ MỤC TIÊU CỦA NUÔI VÀ BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ MH43-01 Giới thiệu: Giới thiệu về tầm quan trọng và định hướng chăn nuôi và bảo tồn động vật hoang dã. Mục tiêu: - Nhận biết được những qui định của nhà nước về việc nuôi thú hoang dã - Xác định được mục đích của việc nuôi thú hoang dã - Rèn luyện tính kiên trì, chịu khó trong học tập. Vai trò động vật trong tự nhiên Vai trò động vật trong tự nhiên đang trở thành món ẩm thực đặc sản, thuốc chữa bệnh, đã dẫn tới sự săn bắt, khai thác bừa bãi các loại động vật hoang dã ngoài tự nhiên ngày càng làm cạn kiệt, nhiều loài và đang có nguy cơ tuyệt chủng. Mục đích của việc tổ chức gây nuôi các loài động vật hoang dã là: - Góp phần vào việc bảo tồn các loại gen động vật tự nhiên.
- Tạo ra một nghề chăn nuôi mới đem lại lợi nhuận cao cho các hộ gia đình. - Cung cấp cho xã hội một nguồn thực phẩm đặc biệt sạch, chất lượng cao. Một nguồn dược liệu làm thuốc phòng và chữa bệnh rất tốt giúp nâng cao sự sống và tuổi thọ cho con người. Định hướng chăn nuôi và bảo tồn động vật hoang dã 2.1 Định hướng chăn nuôi Bảo đảm an toàn cho người nuôi và người dân trong vùng, an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường theo quy định.
- Động vậy hoang dã còn mang nhiều bản năng tự nhiên, chưa được thuần hóa hoặc có những loài không thể thuần hóa như trăn, trắn, cá sấu,. thì mức độ nguy hiểm càng cao nếu chúng thoát ra khỏi nơi nuôi nhốt. Vì vậy, chuồng trại nuôi phù hợp với đặc tính của loài nuôi và năng lực sản xuất của trại. 1 - Các bệnh truyền lây giữa người và động vật nói chung có rất nhiều khoảng 150 bệnh và được gọi là zoonosis (zoonoses).
Trong đó có nhiều bệnh nguy hiểm được xác định từ động vật hoang dã.2 Bảo tồn động vật hoang dã Theo Hiệp hội Bảo vệ ĐVHD Việt Nam Wildlife Conservation Society (WCS), nạn săn bắt và buôn bán ĐVHD đang khiến nhiều loài phân bố ở Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung có nguy cơ tuyệt chủng. - Hiện các trang trại gây nuôi ĐVHD vì mục đích thương mại đang phát triển mạnh về số lượng. Những người khởi xướng mô hình này cho rằng, các hoạt động gây nuôi trang trại sẽ làm giảm bớt nạn săn bắt trong tự nhiên bởi ĐVHD gây nuôi và sản phẩm của chúng là mặt hàng thay thế hợp pháp và có chi phí đầu tư thấp. Họ còn cho rằng, các trang trại gây nuôi cũng góp phần đảm bảo an ninh lương thực và là công cụ hữu hiệu giúp xoá đói giảm nghèo cho các vùng nông thôn.
Để quản lý chặt việc nuôi động vật hoang dã, số thú con ra đời đều được làm “giấy khai sinh” để quản lý nên sẽ khó có chuyện thú rừng biến thành thú nuôi. Xuất phát từ yêu cầu trên một số văn bản quản lý ra đời. - Nghị định số 82 - 2006 - NĐ - CP của chính phủ ban hành ngày 10/8/2006 trong đó có quy định về việc nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cây nhân tạo, các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm. - Nghị định số 32 - 2006 - NĐ - CP ngày 30/3/2006 của chính phủ quy định về quản lý và danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm.
- Nghị định số 88/2003 NĐ/ CP ngày 30/7/2003 của chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. - Thông tư số 01/2004/TT - BNV ngày 15/1/2004 của bộ nội vụ hướng dẫn một số điều của nghị định 88/2003 NĐ/CP ngày 30/7/2003 của chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. - Quyết định số: 74/2008/QĐ – BNN. Ban hành Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
2 - Thông tư số 25/2011/TT - BNNPTNT ngày 6/4/2011.Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng theo Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 15 tháng 12 năm 2010. 3 CHƯƠNG 2 PHÂN LOẠI MỘT SỐ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ PHỔ BIẾN MH43-02 Giới thiệu: - Phân loại động vật hoang dã: động vật sống dưới nước, động vật sống trên cạn và chim. Mục tiêu: - Nhận biết được những vấn đề liên quan phân loại động vật hoang dã - Xác định được mục đích của việc nuôi thú hoang dã - Rèn luyện tính kiên trì, chịu khó trong học tập. Động vật sống trên cạn 1.
Linh trưởng: bao gồm các loài vượn, khỉ, vọoc, Culi - Loài linh trưởng nhỏ nhất là Microcebus murinus và Cebunella pgmaea nặng khoảng 100g và lớn nhất là khỉ Gorila nặng trên 200 kg. - Các loài linh trưởng đều có ngón đầu tiên của chi sau có thể đụng các ngón khác trong bàn tay, điều này giúp các loài linh trưởng dễ cầm nắm và leo trèo. - Đa số linh trưởng chỉ có 5 ngón, khi di chuyển lòng bàn chân và gót chân chạm đất - Đặc điểm của thú linh trưởng là sự phát triển của bán cầu não, thể hiện rõ nhất ở người, não các loài linh trưởng có dạng hình cầu, hàm ngắn và mặt phẳng. - Đa số các loài linh trưởng có mũi ngắn, mắt ở ngay phía trước, so với các loài thú khác thì mắt ở hai bên.
Vượn Họ Vượn (danh pháp khoa học: Hylobatidae) là một họ chứa các loài vượn. Các loài hiện còn sinh tồn được chia ra thành 4 chi, dựa trên số lượng nhiễm sắc thể lưỡng bội của chúng: Hylobates (44), Hoolock (38), Nomascus (52), và Symphalangus (50). Loài tuyệt chủng Bunopithecus sericus là vượn hay linh trưởng giống như vượn, cho tới gần đây vẫn được coi là có liên hệ gần với vượn mày trắng (Hoolock). Các loài vượn còn sinh tồn sinh sống trong các rừng già nhiệt đới và cận nhiệt đới từ đông bắc Ấn Độ tới Indonesia, bao gồm cả các đảo như Sumatra, Borneo và Java, và về phía bắc tới miền Hoa Nam.
Còn được gọi 4 là khỉ dạng người loại nhỏ (tiếng Anh: lesser apes), loài vượn khác với các loài khỉ dạng người loại lớn (great apes) như tinh tinh, khỉ đột, đười ươi và con người ở chỗ tầm vóc nhỏ hơn, có mức độ dị hình giới tính thấp, không làm tổ và ở một số chi tiết cơ thể nhất định, trong đó chúng giống với các loài khỉ thường hơn là giống với khỉ dạng người loại lớn. Các loài vượn cũng kết đôi vĩnh cửu, không giống như các loài khỉ dạng người loại lớn. Loài vượn cũng vượt trội trong loài thú khi di chuyển bằng cách chuyền cành bằng hai tay, đu từ cành này sang cành khác có thể với khoảng cách lên tới 15 m (50 ft), với vận tốc cao tới 56 km/h (35 mph). Chúng cũng có thể nhảy xa tới 8 m (26 ft), và đôi khi đi lại bằng hai chân với hai tay giơ lên để giữ thăng bằng.
Chúng nhanh nhẹn và uyển chuyển nhất trong số các loài thú sống trên cây cao mà không biết bay. Tùy từng loài và phụ thuộc vào giới tính mà bộ lông của vượn có thể có màu từ nâu sẫm tới nâu nhạt, có khi đốm loang màu đen hay trắng. Vượn toàn trắng rất hiếm. Trong số các loài vượn có vượn mực, vượn tay trắng, vượn mày trắng.
Vượn mực (Symphalangus syndactylus), loài vượn to lớn nhất, được phân biệt bởi 2 ngón chân trên mỗi chân hợp lại, vì thế mà có tên gọi cho chi Symphalangus và tên định danh loài syndactylus.1: một con Vượn 5 1. Khỉ Khỉ là một những loài động vật 4 chân thuộc lớp thú, bộ linh trưởng. Khỉ có ba nhóm lớn, là khỉ Tân Thế giới, khỉ Cựu Thế giới, khỉ không đuôi (Ape). Có khoảng 264 loài khỉ đã bị tuyệt chủng.
Một số loài giống khỉ không đuôi, như tinh tinh hay vượn thường được gọi là khỉ trong ngữ cảnh bình dân, tuy rằng các nhà sinh học không xếp chúng vào các loài khỉ. Tuy nhiên, không có một đặc điểm nào là duy nhất mà tất cả các loài khỉ đều có mà các loài khác không có.2: Một con Khỉ 1. Voọc Voọc xám Đông Dương (Danh pháp khoa học: Trachypithecus phayrei crepusculus) hay còn gọi là Voọc xám Đông Nam Á hay gọi đơn giản là Voọc xám ở Việt Nam, là một trong ba phân loài của loài Voọc xám (Trachypithecus phayrei) phân bố ở vùng Đông Nam Á[2]. Một số nghiên cứu cho rằng chúng được coi là một loài riêng biệt với danh pháp khoa học là Trachypithecus crepusculus, danh pháp đồng nghĩa Presbytis crepusculus.
Chúng là loài linh trưởng phân bố ở khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, số lượng của loài này ở Việt Nam không còn nhiều. Mức độ đe dọa ở bậc V (sắp nguy cấp, số lượng còn rất ít). 6 Voọc xám phân bố ở nhiều khu rừng từ Tây Bắc cho đến Nghệ An.
Chúng có bộ lông màu xám tro, trên đầu có mào lông, da bao quanh mắt có màu xanh, lông ở vùng lưng thẫm hơn ở vùng bụng. Bên hông có các lông dài, đầu lông có ánh bạc. Voọc xám sống ở những vùng rừng cây cao trên núi đá vôi, không sống trên rừng hỗn giao tre nứa. Hiện trạng về phân bố, và số lượng voọc xám ở Việt Nam trong những năm gần đây chưa được nghiên cứu đầy đủ.3: Vọoc Xám Đông dương 1.
Cu li Họ Cu li là một họ linh trưởng mũi ướt. Các loài cu li là những động vật có thân hình mảnh mai sống trên cây, và bao gồm cu li, vượn gấu và angwantibo. Chúng sống ở vùng nhiệt đới, Trung Phi cũng như ở Nam và Đông Nam Á. Họ này được Gray miêu tả năm 1821.
Wikipedia Tên khoa học: Lorisidae Tuổi thọ: Cu li chậm lùn: 20 năm Liên họ (superfamilia): Lorisoidea Họ (familia): Lorisidae; Gray, 1821 Khối lượng: Cu li chậm lùn: 430 g, Cu li thon lông đỏ: 240 g, Chiều dài: Cu li chậm lùn: 20 – 23 cm, Cu li thon lông đỏ: 22 cm 7 Hình 2. Voi Họ Voi là một họ động vật có vú lớn, ăn thực vật được gọi chung là voi và voi ma mút. Chúng là những động vật có vú lớn trên cạn với mõm biến đổi thành vòi, và răng biến đổi thành ngà. Đa số các chi và loài trong họ này đã tuyệt chủng.
Chỉ có hai chi, Loxodonta và Elephas, là còn tồn tại. Tên khoa học: Elephantidae Tuổi thọ: Voi đồng cỏ châu Phi: 60 – 70 năm Thời gian mang thai: Voi đồng cỏ châu Phi: 22 tháng Khối lượng: Voi đồng cỏ châu Phi: 6.