CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY RAU Giới thiệu: Nội dung chung nêu lên khái quát đại cương về cây rau:khái niệm, giá trị dinh dưỡng, tình hình sản xuất, những khó khăn và thuận lợi,… Mục tiêu: - Kiến thức: + Trình bày được khái niệm về cây rau, đặc điểm của ngành trồng rau + Trình bày được ý nghĩa kinh tế, giá trị dinh dưỡng của cây - Kỹ năng: + Phân tích được tính hình sản xuất rau trong và ngoài nước + Phân tích được những thuận lợi và khó khăn khi trồng rau - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: + Có khả năng đưa ra phương hướng và nhiệm vụ cho ngành trồng rau. + Rèn luyện tính cẩn thận, tỉ mĩ 1. Định nghĩa cây rau, giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây rau 1.1 Định nghĩa cây rau Rau là các phần tươi của cây thân thảo như rễ, rễ củ, thân củ, thân, chồi non, lá, hoa, trái, hạt được sử dụng làm thực phẩm. Giới hạn giữa rau và cây trồng khác khó phân biệt rõ ràng như rau muống vừa là rau ăn lá, vừa là thức ăn gia súc; dưa hấu là rau nhưng được sử dụng như cây ăn quả; dâu tây là cây ăn quả nhưng lại là cây thân thảo canh tác như cây rau; khoai tây là cây rau nhưng được canh tác trong hệ thống luân canh với cây lương thực và phương thức sản xuất cũng gần với cây lương thực hơn, nên không được xếp vào nhóm cây rau; nấm rơm, nấm mèo là thực vật hạ đẳng nhưng được coi là rau.
Rau không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của gia đình. Rau cung cấp cho con người nhiều loại vitamin, chất khoáng, chất kháng sinh, các acid hữu cơ, các chất thơm, chất xơ… 1.2 Giá trị dinh dưỡng Rau chứa từ 80-90% nước, do đó nên khó bảo quản khi tồn trữ, dễ bầm dập và dễ nhiễm bệnh. Rau có ý nghĩa quan trọng trong dinh dưỡng của con người. Rau chứa một lượng lớn carbohydrat và các chất bột đường; chất đạm, chất béo trong rau không đáng kể so với các loại thực phẩm khác, do đó rau không có giá trị cho năng lượng cao vì vậy rau rất thích hợp cho những người ăn kiêng.
Tuy nhiên, rau là nguồn thức ăn bổ sung vitamin và chất khoáng rất quan trọng.1 So sánh thành phần dinh dưỡng của rau và các thực phẩm khác 1 Loại Năng Carbo- Chất Chất Canxi Sắt Vit. C thực lượng hydrat đạm béo (mg) (mg) (mg) (mg) phẩm (Kcal) (g) (g) Rau ăn lá 22 3,7 1,6 0,3 76 2,3 2,2 44 Rau cải 40 4,4 1,6 0,4 119 1,5 1,1 76 Rau ăn củ 45 6,0 0,7 0,2 68 1,2 6,0 28 Hành tỏi 72 9,2 1,6 0,2 82 0,8 0,7 26 Rau ăn quả 44 5,3 1,4 0,4 30 0,8 0,2 28 Bánh mì 346 52,0 7,5 1,0 15 Vết 0 2,0 Sữa 67 4,8 3,4 3,7 120 - 0,03 1,7 Thịt heo 563 0 11,2 35,0 10 - 0 0,5 (Phân tích trong 100g sản phẩm tươi) a. Chất khô: chiếm khoảng 20%, có loại rau chỉ chiếm 3-5%. Chất khô không hòa tan gồm cellulose, tinh bột, chất sáp và các sắc tố.
Chất khô hòa tan gồm chất đường, đạm, các acid và pectin hòa tan. Chất xơ (cellulose) Chất xơ trong rau ở dạng cellulose là thành phần quan trọng và chiếm phần lớn lượng chất khô. Chất xơ giúp kích thích chức năng nhu động và tiết dịch tiêu hóa của ruột, giúp cơ thể chống bệnh táo bón. Chất đạm Một số rau có hàm lượng chất đạm cao như cải bi xen chứa 5,3%, trái non đậu hòa lan 7%, nấm, đậu, bồ ngót 5-6%, rau muống 2-3%.
Chất đường: thường là đường glucose hay fructose. Đường chứa nhiều trong dưa hấu 6-10%, dưa melon 7-17%, hành tây 6-18%. Đậu hạt và rau ăn củ tích trử tinh bột, chất bột đường ở rau không quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu của cơ thể về chất bột đường. Chất khoáng: Trong rau chứa rất nhiều ion kiềm, do đó giúp trung hòa pH trong máu và dịch tế bào.
Các chất khoáng quan trọng cho cơ thể gồm phospho, canxi, kali, natri, sắt, Iod… - Phospho và Canxi cần cho sự phát triển của tế bào xương, nhu cầu P và canxi hàng ngày từ 0,8-1,5g, P và canxi chứa nhiều trong rau cải, rau ăn lá. - Kali tham gia điều khiển quá trình trao đổi nước trong cơ thể, có nhiều trong cà chua, rau đậu. Nhu cầu hàng ngày là 2g. - Sắt giúp ngăn chận bệnh thiếu máu, chứa nhiều trong rau cải, rau dền, cải bó xôi, cải củ, cà chua, rau muống…Nhu cầu 10-15mg/ngày.
2 - Iod giúp ngăn ngừa bệnh bướu cổ, chứa nhiều trong hành tây, đậu bắp, măng tây. Vitamin (sinh tố) - Sinh tố A có nhiều trong thức ăn có màu đỏ, màu cam. Trong thực vật sinh tố A ở dạng caroten, nhờ men carotenase tổng hợp thành sinh tố A. Mỗi ngày cơ thể con người cần 1,5-2,5 mg sinh tố A (3-5mg caroten).
Thức ăn chứa nhiều sinh tố A gồm: càrốt, ớt, bí đỏ, bó xôi, cần tây, cà chua, khổ qua - Vitamin B (thiamin, riboflavin và niacin) chứa nhiều trong lá ớt, đậu đũa, khoai tây, đậu cowpea. - Vitamin C mỗi ngày cơ thể con người cần 50-100mg. Vitamin C chứa nhiều trong rau ăn quả như ớt, cà chua, cải bắp, cải bông, rau dền, dưa leo, rau muống, cần tây. - Sinh tố P: còn gọi là sinh tố kèm của sinh tố C, tác dụng của nó rất giống sinh tố C, nếu thiếu sinh tố C thì sinh tố P không có hiệu quả.
Mỗi ngày con người cần khoảng 50 mg sinh tố P. Sinh tố P cũng có nhiều trong cà rốt, củ dền, bồ ngót. - Sinh tố B9: tìm thấy trong cải bó xôi vào năm 1941. Mỗi ngày cơ thể cần 0,1-0,5mg.
Sinh tố B9 chứa nhiều trong rau xanh, sử dụng dưới dạng ăn tươi. - Sinh tố U: chứa trong nước rau cải bắp, còn gọi là sinh tố chống loét. Vị thuốc Nhiều loại rau chứa chất dược liệu dùng làm vị thuốc trong đông và tây y như: - Tỏi chứa chất fitoxit giúp dễ tiêu, trị ho, rối loạn tiêu hóa. Từ tỏi chiết xuất dược chất kháng sinh alixin - Cải bắp chứa vitamin U giúp chữa loét bao tử - Bồ ngót chứa papaverin giúp an thần gây ngủ - Hành có tính tán hàn, thông khí, tiêu thực, dùng trị cảm lạnh, ăn khó tiêu.3 Ý nghĩa kinh tế - Trồng rau tăng ngày công lao động cho nông thôn vì sản xuất rau đòi hỏi nhiều lao động hơn so với lúa và cây lương thực khác.
- Trồng rau tăng thu nhập thêm cho nông dân, lợi tức trên diện tích từ sản xuất rau mang lại rất cao, có thể tận dụng đất bờ bao, xung quanh nhà ở hoặc trồng xen, trồng gối với các cây trồng khác hoặc cho leo giàn. - Nghề trồng rau có thể phát triển thêm nhiều ngành nghề phục vụ sản xuất nông thôn như đan sọt, giỏ, hàn, mộc, dịch vụ chế biến đóng hộp và kinh doanh rau. - Xuất khẩu rau nhằm trao đổi hàng hóa giữa các nước. 3 - Rau còn là nguồn thức ăn gia súc.
Đặc điểm và tình hình sản xuất rau 2.1 Đặc điểm của ngành trồng rau - Rau có thể trồng ngoài trời hoặc trồng trong điều kiện có bảo vệ như trồng trong nhà lưới, nhà kính, môi trường tiểu khí hậu nhân tạo. - Rau có nhiều loài, nhiều giống và nhiều biến chủng khác nhau, mỗi loài có đặc điểm sinh học rất khác biệt và có thể có yêu cầu về điều kiện sinh trưởng và phát triển khác nhau, do đó qui trình kỹ thuật canh tác cây rau rất phong phú và đa dạng - Cây rau có hình dạng, chiều cao, độ phân tán và sự phân bố rễ khác nhau nên rất thích hợp cho việc trồng xen, trồng gối - Rau có thời gian sinh trưởng ngắn, mỗi năm có thể trồng được từ 2-5 vụ/năm, do đó trồng rau yêu cầu nhiều công lao động trên đơn vị diện tích và đòi hỏi công chăm sóc tỉ mỉ, thường xuyên hơn so với cây trồng khác 2.2 Tình hình sản xuất rau trên Thế giới Rau xanh là loại thực phẩm thiết yếu của cuộc sống con người, cung cấp phần lớn khoáng chất và vitamin, góp phần cân bằng dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày. Rau là cây trồng có giá trị kinh tế cao, là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới. Hiện nay nhiều nước trên thế giới trông rau với diện tích lớn, tại các nước đang phát triển tỉ lệ cây rau/cây lương thực là 2/1, còn ở các nước đang phát triển tỉ lệ này là 1/2.3 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam Việt Nam trải dài trên 15 vĩ độ từ vĩ tuyến 8o đến vĩ tuyến 23o, với các vùng sinh thái nông nghiệp tương đối đa dạng từ nhiệt đới-ôn đới/cận nhiệt đới ở miền Bắc sang khí hậu nhiệt đới ở miền Nam.
Việt Nam có điều kiện tự nhiên và khí hậu phù hợp để phát triển nhiều loại rau quả, bốn mùa đều có thể trồng rau xanh, mùa nào rau nấy. Rau hằng năm có bí xanh, bí đỏ, dưa hấu, cà chua, đậu. Rau 2 năm có hành tây, cải bắp, cà rốt,. Cây thân thảo lâu năm có rau muống, măng tây, măng tre,.
Nước ta có lịch sử trồng rau rất lâu đời. Từ đời Hùng Vương, bầu bí đã được trồng trong các vườn rau gia đình. Theo sổ sách ghi chép, rau được du nhập vào nước ta từ thời nhà Lý (thế kỷ thứ 10). Năm 1721- 1783 Lê Quí Đôn đã tổng kết các vùng phân bố rau.
Trước đây, có ít các giống rau được trồng trong nước như rau muống, rau cải, rau đay, rau dền…Từ đầu thế kỷ 20, cùng với sự mở mang đô thị ngành trồng 4 rau cũng được phát triển. Nhiều giống rau quí, dinh dưỡng cao được du nhập từ thời Pháp thuộc được gọi là “rau tây” như cải bắp, su hào, cải bông, hành tây, tỏi, cà rốt, cà chua…Ngoài ra một số giống rau được nhập từ Trung Quốc được gọi là “cải tàu” như cải tàu cuống, cải bắc thảo, cải bẹ… Ngày nay do sự thuần hóa lâu đời nước ta có nhiều giống trồng tốt, thích nghi với khí hậu từng vùng riêng biệt, nông dân cũng đã tích lũy nhiều kinh nghiệm trong việc thuần hóa chọn và để giống những giống rau. Ở xung quanh thành phố và các thị trấn hình thành những vùng rau tập trung ở ngoại thành Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, vùng rau Đà Lạt… Sản xuất rau thường tập trung vào vụ Đông xuân vì điều kiện thời tiết thuận lợi nên rau mùa này thường có sản lượng cao nhưng giá rẻ. Khâu giao thông phân phối cũng là trở ngại lớn vì rau thường có khối lượng cồng kềnh, vận chuyển dễ bị dập nát và mau hư hỏng.