Chương 1 trình bày về Hình thái của ong mật: đầu, ngực, bụng và các loài ong mật; Sự phát triển của ong chúa, ong thợ, ong đực; Sự truyền đạt thông tin về nguồn thức ăn, nơi làm tổ của ong mật; Tập tính xã hội và sự điều hoà hoạt động của đàn ong. Học xong chương này, sinh viên sẽ hiểu được những kiến thức cơ bản về hình thái và thành phần các loài ong mật trên thế giới và Việt Nam; Hiểu và nắm được những kiến thức cơ bản về sinh học ong mật. HÌNH THÁI HỌC ONG MẬT 1. Cấu tạo cơ thể ngoài ong mật Ong mật cũng giống như các côn trùng khác có cấu tạo cơ thể thành 3 phần: đầu - ngực - bụng rõ ràng (Hình 1.
Ghi chú: H: Phần đầu (o: Mắt đơn; E: Mắt kép; Ant: Râu đầu; Lm: Môi hàm trên; Lb: Môi hàm dưới; Md: Hàm trên; Mx: Hàm dưới; Gls: Lưỡi; Prb: Vòi hút). Th: Phần ngực (1: Đốt ngực trước; 2: Đốt ngực giữa; 3: Đốt ngực sau; L1: Chân trước; L2: Chân giữa; L3: Chân sau; W2: Cánh trước; W3: Cánh sau; Tg: Phiến dưới cánh). Ab: Phần bụng (I, II-VII: Các đốt bụng; Stn: Ngòi đốt; Sp: Lỗ thở). Cấu tạo cơ thể bên ngoài của ong mật 1 a.
Đầu - Kiểu miệng của ong mật: Ong mật có kiểu miệng gặm hút, vòi hút dạng phiến được hình thành từ các bộ phận phụ của miệng như: hàm dưới, râu hàm dưới, môi dưới và lưỡi (Hình 1. Hàm trên phát triển, chắc khỏe, nhờ đó ong có thể gặm, nhai các vật liệu để xây tổ, tự vệ chống lại kẻ thù, cắn phá bao phấn của hoa để tách lấy hạt phấn làm thức ăn. Ghi chú: a: Cơ hàm trên; Cd: Đốt gốc hàm; Ga: mảnh ngoài hàm; Gls: Lưỡi; Lbl: Thùy vòi hút; LbPlp: Môi dưới; Lr: Hàm dưới; Md: Hàm trên; MxPlp: Râu hàm dưới; PF: Hốc vòi hút; Pmt: Cằm trước; Prmt: Cằm sau; Pgl: Mảnh dưới lưỡi; Sc: Rãnh nước bọt; St: Mảnh gốc hàm. Cấu tạo vòi hút của ong mật Hình 1.3: Cấu tạo râu đầu của ong mật - Kiểu râu đầu ong mật có dạng gối gập (Hình 1.
Trên râu đầu chứa rất nhiều cơ quan cảm nhận mùi giúp cho ong nhanh chóng nhận ra nguồn hoa, cũng như nhận ra mùi của đàn của mình. - Mắt của ong mật: có 2 loại mắt (mắt đơn và mắt kép) (Hình 1.4), mắt đơn có 3 mắt xếp theo hình tam giác trên đỉnh trán của ong mật, cấu tạo từ một tế bào mắt. Mắt đơn có chức năng giúp ong định hướng tốt hơn. Mắt của ong không nhìn thấy ánh sáng đỏ (ánh sáng có bước sóng > 700 Å).
Mắt kép được cấu tạo từ nhiều mắt đơn. Mỗi mắt đơn trong mắt kép có chức năng ghi nhận một điểm ảnh của vật thể. Nên khi ghi nhận vật thể là toàn bộ các mắt đơn đều tham gia giống như máy scane, càng quét nhanh càng ghi nhận được hình ảnh nhanh. Do vậy mắt ong thợ thường nhì thấy vật thể chuyển động nhanh hoặc khi chúng bay nhanh vẫn nhìn thấy hoa.
Cấu tạo mắt của ong mật b. Ngực Ghi chú: A: Chân trước; B Chân giữa; C: Chân sau mặt ngoài; D: Chân sau mặt trong; a: Cựa. Cấu tạo chân của ong Ngực của ong mật có 3 đốt, mỗi đốt mang một đôi chân. Chân trước có một bộ phận đặc biệt (lỗ khuyết tròn ở phần đốt bàn tiếp giáp với đốt chày tại hình 1.
Khi bàn chân trước gập lại cùng với cựa của đốt chày sẽ kẹp râu đầu vào đó và vuốt để làm sạch râu đầu của ong. Do đó chân trước của ong mật được gọi là “Chân chải râu”. Chân sau của ong mật có cấu tạo đặc biệt ở đốt chày (Hình 1. Đốt chày có cấu tạo mảnh, 2 mép bên và mép dưới có hàng lông cứng cong, trong lòng mặt ngoài nhẵn và thỉnh 3 thoảng có vài lông cứng.
Nhờ có cấu tạo đặc biệt này mà ong thợ thu gom được phấn hoa để mang về tổ làm thức ăn. Phần đặc biệt đó gọi là giỏ phấn và chân sau gọi là chân lấy phấn (Hình 1. Ở ong đực và ong chúa, chân sau không có bộ phận giỏ phấn vì không có chức năng thu hoạch phấn. Ảnh: Phạm Hồng Thái (2004).
Ong nội Apis cerana thu gom hạt phấn của hoa đơn buốt (Bidens pilosa) đựng trong giỏ phấn ở chân sau Ghi chú: A: Cấu tạo cánh trước và cánh sau. B: Hoạt động vỗ cánh của ong. Cánh trước và cánh sau của ong mật 4 Ong có 2 đôi cánh (cánh trước và cánh sau), thuộc dạng cánh màng. Trong quá trình vỗ cánh để bay, hai cánh liên kết lại với nhau nhờ các móc ở mép trước của cánh sau và gờ cong ở mép sau của cánh trước (các loài hoặc các giống ong khác nhau có số lượng móc cánh khác nhau).
Liên kết này rất chắc chắn làm cho nhiều người lầm tưởng ong chỉ có một đôi cánh. Khi bay, ong vỗ cánh với tần số 12.000 lần/phút và bay với tốc độ 24,15 km/giờ. Khi nghiên cứu hình thái của ong mật chiều dài, chiều rộng của cánh, một số đoạn gân cánh và góc cánh được sử dụng cho phép xác định các loài, các chủng ong mật khác nhau (Ruttner, 1988; Phạm Hồng Thái, 2008; Hepburn & Radloff. Bụng Bụng là bộ phận lớn nhất của ong, chứa cơ quan tiêu hóa, tuần hoàn và sinh sản.
Bụng ong được chia thành 7 đốt. Mỗi đốt được hình thành từ 2 mảnh (mảnh lưng và mảnh bụng). Các mảnh bụng từ đốt thứ 2 đến đốt thứ 6 đều có tuyến sáp (Hình 2. Đốt cuối bụng ong thợ và ong chúa đều có ngòi đốt, bản chất là máng đẻ trứng của con cái.
Ghi chú: A: Các mảnh sáp dưới các đốt bụng; B: 2 gương sáp (tuyến sáp) ở mảnh đốt bụng. Bụng ong mật và cơ quan tiết sáp 1. Cấu tạo cơ thể bên trong của ong mật 1. Cấu tạo cơ thể bên trong của ong mật trưởng thành Ong mật có cấu tạo cơ thể gồm có diều mật là nơi chứa mật hoa khi thu hoạch từ bên ngoài mang về tổ.
Diều mật chỉ chứa có giới hạn nên khoảng cách kiếm ăn xa tổ thì khả năng tạo ra sản phẩm mật ong sẽ giảm. Vì vậy, người nuôi ong phải đặt đàn ong tại trung tâm nguồn hoa. Trong hệ thống ống tiêu hóa của ong mật, sau diều mật đến dạ dầy, ruột giữa, ống malpighi, ruột sau. Ruột giữa là bộ phận mẫn cảm với các vi sinh vật gây bệnh cho ong (Nosema làm sưng và thâm đen ruột giữa).
Cũng giống như côn trùng khác, ong mật có các hạch thần kinh ở mỗi đốt (Hình 2.9), ở dưới mắt đơn của đầu có các hạch não dạng hình nấm có chức năng như não bộ. Ong mật có tim dạng hình ống nhiều buồng tim. Cuối bụng có túi nọc, có cơ quan sinh sản. Mỗi đốt có một đôi lỗ thở (Hình 1.10), cấu tạo theo đường mao quản.
Ong mật có thể bị ve khí quản kí sinh bên trong và làm tắc lỗ thở. 5 Ghi chú: 1: Vòi hút; 2: Hầu; 3: Hạch não; 4: Tuyến nước bọt; 5: Động mạch chủ; 6: Cơ cánh; 7: Túi khí; 8: Diều mật; 9: Dạ dầy; 10: Buồng tim; 11: Cơ khí quản; 12: Ruột giữa; 13: Ruột sau; 14: Túi nọc; 15: Ngòi nọc; 16: Hạch thần kinh. Cấu tạo bên trong của ong mật Nguồn: Winston (1987). Hệ thống hô hấp của ong mật trưởng thành Bên trong cơ thể ong mật có các tuyến để tiết ra các chất.
Các chất tiết từ cơ thể ong thợ có 4 chức năng cơ bản như sau: tạo ra chất sáp, truyền đạt thông tin, bảo vệ và chế biến thức ăn. Các tuyến này phân bố đều trên cơ thể ong thợ (Hình 1. Tuyến sáp tiết ra chất sáp để xây tổ vị trí trên cơ thể ong thợ tại hình 1. Tuyến hàm và tuyến hầu sản sinh ra sữa ong chúa.
Tuyến nước bọt tiết ra các men tiêu hóa. Tuyến nọc tiết ra nọc độc và pheromone báo động. Các tuyến Nasonov, Dufour, Arnhart và bàn chân tiết ra các chất giúp cho ong định hướng, chia đàn và đánh dấu vùng lãnh thổ kiếm ăn. Các tuyến trên cơ thể ong thợ 1.
Cấu tạo cơ thể bên trong của ấu trùng ong mật Cấu tạo bên trong của ấu trùng cũng bao gồm ruột trước, ruột giữa và ruột sau. Trong xoang bụng của ấu trùng cũng có hệ thống bài tiết (malpighy). Ngoài ra, ấu trùng còn có tuyến tơ. Tuyến này pháp triển mạnh khi ấu trùng ở tuổi 5 và nhả tơ kéo kén, sau đó ong thợ trưởng thành dùng sáp bôi lên lớp tơ để lỗ tổ vít lại.
Cấu tạo bên trong của ấu trùng 7 1. PHÂN LOẠI ONG MẬT 1. Ong mật trên thế giới Các nhà khoa học đã mô tả ong mật thuộc chi Apis nhỏ như loài ruồi hoặc lớn bằng những loài ong bắp cầy (ong - bees: ăn mật hoa và phấn hoa; ong bắp cầy - wasp: chỉ ăn thịt, xác động vật chết hoặc côn trùng). Những hoạt động kiếm ăn của ong mật đóng vai trò thụ phấn cây trồng và tạo ra sự cân bằng sinh thái cũng như bảo vệ môi trường.
Ngày nay, do những tác động qua lại của ong mật và thực vật thụ phấn chéo nhờ côn trùng, trong quá trình đồng tiến hoá đó làm cho hai bên trở nên rất đa dạng thành phần loài. Đối với ong nói chung, sự đa dạng về thành phần loài tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, không một ai biết chính xác là có bao nhiêu loài ong đang tồn tại ở vùng nhiệt đới, mà người ta chỉ ước tính có khoảng 20.000 loài thông qua các mẫu đang được lưu giữ trong các viện bảo tàng trên khắp thế giới (Roubik, 1989). Nhiều nhà khoa học đã phân chia ong mật thành hai nhóm là ong mật có ngòi đốt (thường được gọi là ong mật - honeybees hoặc true honeybees) và ong mật không ngòi đốt (stingless bees) (Michener, 2007).
Sự đa dạng thành phần loài của ong mật có ngòi đốt là không nhiều so với ong không ngòi đốt, ong mật có ngòi đốt khoảng 11 loài (Lo & cs., 2010) còn ong mật không có ngòi đốt có 400 loài (Sakagami & Khoo, 1987). Trong 11 loài trên có tới 10 loài phân bố ở châu Á còn 1 loài chỉ phân bố ở châu Âu và châu Phi (Oldroyd & Wongsiri, 2004). Trước đây, một số nhà khoa học trên thế giới cho rằng thành phần của ong mật chỉ có 1 chi với 3 chi phụ (Ruttner, 1988): - Chi phụ ong mật nhỏ xíu (ong ruồi): Micrapis Ashmead 1904. - Chi phụ ong khổng lồ (ong khoái): Megapis Ashmead 1904.
- Chi phụ ong làm tổ trong hang, hốc cây (ong châu Âu và ong châu Á): Apis Linnaeus 1758. Ong mật thuộc bộ cánh màng (Hymenoptera) và thuộc họ Apidae.