chương 1 trình bày về các khái niệm cơ bản được đề cập trong bệnh lý học như: Khái niệm về bệnh, khái niệm về nguyên nhân bệnh, sinh bệnh học và quá trình phát triển của bệnh. Mục tiêu của chương này nhằm trang bị cho người học kiến thức cơ bản để hiểu và phân biệt các hiện tượng bệnh lý. Nắm vững các khái niệm cơ bản theo quan điểm duy vật giúp cho người thầy thuốc có hướng đi đúng đắn trong chẩn đoán và điều trị bệnh. KHÁI NIỆM VỀ BỆNH Người thầy thuốc muốn chữa khỏi bệnh thì phải hiểu đúng bản chất của bệnh.
Vậy bệnh là gì? Câu hỏi này đã được đặt ra từ ngàn xưa, khi con người có mặt trên trái đất, nhưng câu trả lời lại luôn luôn thay đổi qua các thời đại. Nó phản ánh sự tiến bộ của khoa học và các quan điểm triết học đương thời, phản ánh trình độ hiểu biết giới tự nhiên của con người. Sơ lược khái niệm về bệnh qua các thời đại a. Trong thời đại Nguyên thuỷ Vào buổi sơ khai, con người hoàn toàn bất lực trước sức mạnh của thiên nhiên, mọi thứ đều ghê gớm, thần bí với ông sấm, bà sét, ông thiện, ông ác, với ma tà và quỷ dữ, với thiên đường và địa ngục.
Do đó quan điểm bị bệnh là do trời đánh, thánh vật, do quỷ tha, ma bắt, và tất nhiên với quan điểm như vậy thì việc chữa bệnh phải cần đến thầy cúng, thầy phù thuỷ hoặc phải cầu xin thượng đế phù hộ. Nền Văn minh cổ đại Nhân loại đã trải qua những nền Văn minh cổ đại phát triển khá cao, đặc biệt là về lĩnh vực y học như ở Trung Quốc, Ai Cập, Ấn Độ, Hy Lạp - La Mã. Trong thời kỳ cổ Trung Hoa, quan điểm về vũ trụ là vạn vật đều do hai lực âm - dương và năm nguyên tố (kim, mộc, thuỷ, hoả và thổ) hình thành. Âm và Dương đã được coi như hai lực đối kháng và bổ cứu cho nhau trong sự hình thành vạn vật như đực với cái, nóng với lạnh, sống với chết.
Ngũ hành tuân theo quy luật tương sinh, tương khắc (Tương sinh: Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc. Tương khắc: Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ). 1 Trong vũ trụ và vạn vật, mọi trạng thái đều phụ thuộc vào tình trạng cân bằng giữa hai lực Âm - Dương và ngũ hành, vì vậy bệnh là sự rối loạn cân bằng Âm - Dương hoặc có thay đổi trong quy luật tương sinh, tương khắc của ngũ hành. Chính vì vậy, các thuật ngữ âm thịnh dương suy, chân thuỷ, chân hoả, thể hàn thể nhiệt thường được dùng trong y học cổ đại.
Về mặt triết lý thì khoẻ mạnh là nhờ tình trạng cân bằng hoà hợp của vật chất trong cơ thể nên quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm duy vật biện chứng, tuy còn thô sơ song quan điểm cổ đại này cũng rất tiến bộ và y học cổ truyền cũng đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm chữa bệnh quý báu. Quan niệm cổ Ai Cập cho rằng: sự sống là do chất “khí” (pneuma) và hô hấp là thu chất khí đó vào trong cơ thể. Khi chất khí trong sạch thì khoẻ mạnh, còn khi chất khí nhơ bẩn thì sinh ra bệnh tật. Triết lý về sự sống thời cổ của Ấn Độ là triết lý của đạo phật và sống - chết chỉ là luân hồi, chết chỉ là một giai đoạn của sống, cơ thể vật chất vô tri vô giác mà trong đó linh hồn vận động, đảm bảo sự thống nhất các bộ phận của cơ thể, sự lành mạnh bình thường của các chức phận.
Khi linh hồn rời cơ thể để sang một thế giới khác thì đó là sự chết. Vậy, bệnh chính là sự đấu tranh của linh hồn nhằm duy trì hoạt động bình thường của cơ thể. Nền văn minh Hy Lạp - La Mã cổ cũng có nhiều nhà bác học nổi tiếng trong lĩnh vực y học. Hypocratus (460-377 trước CN) xây dựng thuyết thể dịch cho rằng, chức năng của cơ thể do hoạt động cân bằng của 4 loại dịch là: Đỏ do máu của tim tiết ra và biểu hiện tính nóng; Đen do máu của lách quyết định biểu hiện tính ẩm; Mật vàng ở gan biểu hiện tính khô và dịch Trắng ở não biểu hiện tính lạnh.
Từ đó rút ra khái niệm: Bệnh là sự mất cân bằng 4 loại thể dịch nói trên của cơ thể và nguyên lý điều trị bệnh là phục hồi lại sự cân bằng nhờ các toa thuốc mát hay thuốc nóng. Đây chính là những cơ sở lâm sàng đầu tiên trong y học. Thời Trung cổ Từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ XII, khoa học nói chung hầu như không phát triển. Đó là một thời kỳ trì trệ, tôn giáo và phong kiến đã kìm hãm mọi phát triển khoa học.
Y học nằm trong tay các thày dòng, cha cố,… Nhà thờ thiên chúa giáo cho rằng bệnh tật là sự trừng phạt của đấng tối cao đối với những tội lỗi mà con người và chúng sinh đã mắc phải, muốn khỏi bệnh thì phải cầu nguyện cho đức chúa buông tha. Thời Phục hưng Cuối thời kỳ Trung cổ nhiều nhà khoa học đã dũng cảm đứng lên chống lại quan điểm sai lầm của nhà thờ, truyền bá những tư tưởng mới. Lĩnh vực y học cũng có nhiều tiến 2 bộ vượt bậc, năm 1543, Andre Vesale (1514-1564) người Bỉ đã xuất bản quyển sách “Cấu trúc cơ thể người”. Chính ông là người đặt nền móng cho các môn hình thái học.
Năm 1616, William Harvey (1578-1657) đã công bố một phát minh quan trọng là tuần hoàn của máu. Decaster đưa ra thuyết cơ học cho rằng: Cơ thể cũng giống như một cỗ máy; cơ thể bị bệnh là khi bộ máy sinh vật bị hư hỏng giống như máy hết nhiên liệu hoặc các bánh răng mòn, gãy,… Sylvius nghiên cứu các dịch lại cho rằng, bệnh tật là do rối loạn hoá học trong cơ thể. Thế kỷ XVIII-XIX Kính hiển vi đã ra đời và ngày càng hoàn thiện, thuốc nhuộm tế bào cũng được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu hình thái vi thể, do đó nảy nở khái niệm giải phẫu cục bộ về bệnh, nghiên cứu về bệnh cảnh lâm sàng được so sánh với tổn thương thấy được khi mổ khám xác chết. Wirchov (1821-1902) đã cho xuất bản cuốn “Bệnh lý tế bào”, ông cho rằng nguyên nhân của bệnh là do tổn thương tế bào: bệnh sẽ chỉ xuất hiện tại các chỗ mà tác nhân gây bệnh làm tổn thương tế bào.
Theo ông thì không phải toàn bộ cơ thể phản ứng với các yếu tố gây bệnh mà chỉ cục bộ các nhóm tế bào tiếp xúc với tác nhân gây bệnh. Quan niệm này coi cơ thể đa bào chỉ là sự liên kết đơn thuần chứ không phải là một khối thống nhất toàn vẹn. Clot Becna (1865) nêu lên mối quan hệ khăng khít giữa nội môi và ngoại môi. Ngoại môi luôn luôn thay đổi nên để giữ cho nội môi không thay đổi, cơ thể sống phải có hàng loạt các chức năng bảo vệ và điều hoà, bệnh và chết chỉ là sự tan vỡ hoặc rối loạn cơ chế điều hoà đó.
Đến nửa sau của thế kỷ XIX, nhờ những đóng góp to lớn của Pasteur (1821- 1895), Koch (1843-1900), Metnhicop, Eclich (1854-1915) tìm ra vai trò gây bệnh của nhiều loại vi sinh vật. Người ta đều cho rằng, bệnh là do vi trùng gây ra và chữa bệnh là tìm ra các biện pháp tiêu diệt vi trùng trong và ngoài cơ thể bệnh. Thể kỷ XX Thế kỷ của điện tử và cũng là thế kỷ của sinh học, các ngành sinh học phát triển mạnh mẽ như: di truyền học, miễn dịch học, sinh học phân tử,. dẫn đến có rất nhiều khái niệm về bệnh.
Pavlov đưa ra học thuyết thần kinh của bệnh. Theo thuyết này, nội môi và ngoại cảnh là một khối thống nhất, trong đó hoạt động của thần kinh cao cấp đóng vai trò quyết định khả năng thích ứng của cơ thể (nội môi) đối với thay đổi của bên ngoài. Theo Pavlov: trong mỗi bệnh có hai quá trình tồn tại song song, quá trình bảo vệ sinh lý và quá trình huỷ hoại bệnh lý. “Bệnh là do rối loạn hoạt động phản xạ của hệ thần kinh; 3 rối loạn tương quan giữa những khu vực khác nhau của hệ thần kinh là cơ chế phát triển của bệnh”, quan niệm này quá nhấn mạnh vai trò của thần kinh trung ương.
Hans Selye đưa ra ý kiến bệnh là rối loạn khả năng thích nghi. Trong khi nghiên cứu phản ứng không đặc hiệu của cơ thể chống lại tác nhân stress bên ngoài, Selye nhận thấy bao giờ cơ thể cũng đáp ứng bằng sự thay đổi hoạt động của hệ nội tiết - thần kinh hạ não - thượng thận; kết quả là có sự đối kháng giữa hai loại hormon corticoit, loại thứ nhất tiết ra nhằm dồn nguyên liệu trong cơ thể tới chỗ bị đe doạ, nó ức chế quá trình viêm và quá trình phát triển tổ chức xơ, còn loại thứ hai có tác dụng làm vết thương mau lành bằng cách tăng sinh chất keo và phát triển tổ chức liên kết. Bình thường hai hệ thống này hoạt động cân bằng nhau nhằm bảo vệ cơ thể, khi mất cân bằng sẽ sinh ra bệnh - dạng bệnh thích nghi. Quan điểm này cũng chỉ giải thích được cơ chế sinh bệnh của một nhóm bệnh mà thôi.
Từ những quan niệm như vậy về sinh vật, chúng ta có thể nêu lên một khái niệm về bệnh một cách tương đối như sau: “Bệnh là sự rối loạn đời sống bình thường của cơ thể sinh vật do tác động của các yếu tố gây bệnh khác nhau, gây ra một quá trình đấu tranh phức tạp giữa hiện tượng tổn thương bệnh lý và hiện tượng phòng vệ sinh lý, làm hạn chế khả năng thích nghi của cơ thể đối với ngoại cảnh”. Những điều cần chú trọng trong khái niệm về bệnh a. Bệnh có tính chất của một cân bằng mới kém bền vững Sự hằng định nội môi mà Claude Bernard đã từng nói đến là kết quả của một cân bằng sinh lý giữa hai quá trình, tân tạo và tiêu huỷ. Ví dụ glucoza huyết là kết quả cân bằng giữa tiêu hao và tân tạo glucoza, nhiều tình trạng sinh học khác cũng như vậy.
Cơ thể sống là một cân bằng động. Khi có yếu tố gây bệnh tác động vào cơ thể thì cân bằng bị phá vỡ, nhưng lập tức cơ thể đó có phản ứng bảo vệ, sẽ có những hoạt động nhằm khôi phục tình trạng cân bằng bị nhiễu loạn bởi yếu tố ấy.